CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Lịch sử ra đời của Phương pháp dạy học theo Dự án Phương pháp dự án là một sản phẩm của nền giáo dục tiến bộ Mỹ. Ý tưởng ban đầu được giới thiệu trong năm 1908 như một phương pháp giảng dạy mới trong nông nghiệp , nhưng nhà giáo dục William H. Kilpatrick đã xây dựng các khái niệm và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới trong bài viết nổi tiếng của ông: “Phương pháp dự án” (1918).
Việc học của học sinh cần vừa có sự trao dồi kỹ năng và kết hợp với thực hành kỹ năng và đánh giá học tập thông qua sản phẩm cụ thể. Lịch sử của phương pháp dự án có thể được chia thành năm giai đoạn: - 1590-1765: Các dự án đầu tiên được xây dựng tại các trường kiến trúc ở châu Âu. - 1765-1880: Dự án là một phương pháp giảng dạy thường xuyên trong nền giáo dục Mỹ. - 1880-1915: Xây dựng các dự án theo hướng dẫn trong các trường công lập.
- 1965-nay: tìm tòi, khám phá các ý tưởng mới về dự án .2 Sự phát triển của phương pháp dạy học theo Dự án 1. Sự phát triển phương pháp dạy học theo dự án ở nước ngoài Từ cuối thế kỷ XVI, những kiến trúc sư người Ý đã thành lập học viện nghệ thuật-The Accademia di San Luca Rome dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577. Cuộc thi đầu tiên của học viện này được tổ chức vào năm 1656. Hình thức của các cuộc thi vào học viện tương đương với kỳ thi kiến trúc.
Trong các dự án này, sinh viên được giao nhiệm vụ thiết kế và gia công một sản phẩm kỹ thuật hoàn thiện một cách tự lực, trong đó cần vận dụng các lý thuyết, kỹ năng học. Sau đó, học tập bằng các dự án không còn là duy nhất đối với ngành kiến trúc. Đến cuối thế kỷ XVIII, chuyên ngành cơ khí được thành lập và được coi là một bộ phận của các trường đại học công nghiệp và kỹ thuật cũng đã áp dụng DHTDA vào giảng dạy. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nước Mỹ với phong trào cải cách giáo dục diễn ra mạnh mẽ, trong đó tư tưởng giáo dục căn bản của cuộc cải cách này là dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, ngày nay còn gọi là dạy học định hướng học sinh.
Trong phong trào cải cách đó, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ đưa vào sử dụng trong dạy học phổ thông. Các nhà sư 6 Luan van phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống, coi giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học. Ban đầu, phương pháp dạy học dự án được sử dụng chủ yếu trong dạy học thực hành các môn Kỹ thuật. Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội.
Khi đó, những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J.Dewey (1859 – 1952) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phương pháp dự án của các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20. Tiêu biểu là nhà Tâm lý học Wiliam H.Klpatric (1871-1965) với bài báo có tiêu đề “Phương pháp dự án”, công bố năm 1918. Bài báo đã gây một tiếng vang lớn trong các cơ sở đào tạo GV cũng như trong các trường học. Sau đó, ông cùng các nhà nghiên cứu của trường đại học Côlumbia đã truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hội nghị.
Vào năm 1925, ông cùng cộng sự cho xuất bản tác phẩm về PPDH dự án. Ở Châu Âu, Celestin Freinet (1896 – 1966) là người tiên phong và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với DHTDA. Theo ông, lớp học trước hết là một nơi nghiên cứu các thông tin, trao đổi các ý kiến từ các HS. Mong muốn của Freinet là HS phải được phát triển khả năng tư duy hơn là chỉ tiếp thu kiến thức một cách máy móc.
Trong các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, nhìn chung khái niệm DHTDA không được sử dụng trong phạm trù PPDH, tuy nhiên những tư tưởng tương tự như DHTDA có thể tìm thấy trong các mô hình trường học lao động của Nga từ sau cách mạng tháng mười 1917, như mô hình trường học lao động của Blonxki, Makarenko. Trong các trường này, học sinh thường được giao các nhiệm vụ lao động phức hợp và các em cần thực hiện một cách tự lực, sáng tạo Sau một thời gian gần như bị lãng quên trong những năm trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, từ những năm 1970, cùng với trào lưu cải cách giáo dục mới ở các nước phương Tây, DHTDA được quan tâm nghiên cứu và sử dụng rộng rãi, pháp triển mạnh mẽ trong phạm vi quốc tế. Sự lan tỏa này đã tạo ra một bước phát triển mới trong PPDH này. Điển hình là những quan điểm về phương pháp dự án của các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận của DHTDA.
Có thể kể tên đến các 7 Luan van công trình nghiên cứu của tác giả R.Stímon (1914), Barrows, H.P khoa Nông nghiệp, ĐH Hoa kỳ (1916) đã thực hiện các dự án trong DH về nông nghiệp. Tác giả John Dewey trong công trình “Democracy and Education” (1916); hay một số nhà nghiên cứu khác như W.W Charters (1918) với bài viết “Theo project in home Bconomice Teaching; tác giả W.H Kilpatrick với bài “The project method” (1918); tác giả Jame Leroy Stockton với bài “Project work in Education” (1920); tác giả Stevensm với bài “Project method of teaching” (1921)…tất cả các bài viết trên đều đề cập đến cơ sở lý luận của DHTDA. DHTDA ngày nay được ứng dụng trong mọi cấp, từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cũng như trong đào tạo đại học, trong các môn học hay ngành học, thậm chí trong cả giáo dục mầm non. Trong đào tạo giáo viên, DHTDA cũng được sử dụng rất phổ biến.
Trường Đại học Roskilde của Đan Mạch hiện nay dành trên 50 % quỹ thời gian đào tạo cho DHTDA. Theo mô hình của ĐH Kỹ thuật Berlin thi DHTDA có trọng tâm là thực hành theo dự án trong xưởng, thuộc lĩnh vực đào tạo chuyên môn. Ngoài ra DHTDA cũng được sử dụng khá phổ biến trong tất cả các cấp học ở các nước Châu Á như Thái Lan, Singgapo, Hồng Kông…các dự án học tập được học sinh thực hiện thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.2 Sự phát triển Dạy học theo dự án ở Việt Nam Ở Việt Nam, trước đây các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo dạy học, đầu tiên là các trường đại học kỹ thuật. Hiện nay các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khoá luận thực hiện trong các trường đại học được thực hiện theo hình thức là các dự án.
Trong các hình thức này, SV thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu một cách tự lực dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trong giáo dục phổ thông, trong những năm 1980, cùng với sự phát triển của phong trào hướng nghiệp, nhiều trường đã thực hiện các dự án như dự án trồng cây, dự án phát triển vườn trường. Tuy nhiên cho đến nay, DHTDA vẫn chưa được sử dụng phổ biến trong đào tạo Trung học Phổ thông , Trung học Cơ sở và Tiểu học. Từ một số năm gần đây, với những ưu điểm vượt trội, DHTDA đã đang được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và DHTDA được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu Tiếng Việt với những tên gọi khác nhau như: đề án , dạy học theo dự án, phương pháp dự án.
Với sự tăng 8 Luan van cường hợp tác quốc tế trong những năm gần đây, DHTDA cũng được tăng cường giới thiệu và vận dụng ở Việt Nam. DHTDA được đưa vào chương trình lý luận dạy học đại học dành cho các khoá cao học ở ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Huế, ĐHSP Kỹ thuật TPHCM, chương trình hợp tác quốc tế của dự án phát triển giáo viên THCS, chương trình hội thảo tập huấn của dự án phát triển THPT. Trong những năm gần đây, các chương trình bồi dưỡng giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin của các tập đoàn máy tính như Intel, Microsoft đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá việc sử dụng PPDH ở Việt Nam. Chương trình dạy học cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future) và chương trình "Đa kỹ năng công nghệ thông tin (ICT) vào dạy và học" (Partners in learning) đề ra mục đích chính là giúp cho các GV biết cách sử dụng công nghệ máy tính để phát triển trí tưởng tượng của học sinh và cuối cùng là dẫn dắt các em tới một phương pháp học tập hiệu quả hơn dựa trên nền tảng của phương pháp dạy học theo dự án.
Từ năm 2006 trở lại đây, rất nhiều giáo viên các bậc học, nghiên cứu sinh, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trên cả nước quan tâm nghiên cứu và vận dụng DHTDA vào giảng dạy và học tập. Triển khai phương pháp dạy học theo dự án vào Việt Nam Việc đưa phương pháp dạy học theo dự án vào trong chương trình dạy học không phải là ý tưởng mới lạ hay mang tính cách mạng trong giáo dục. Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc triển khai dự án trong thực tế đã được phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học ở nhiều trường. Theo tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) về hai Dự án Việt – Bỉ như sau: 1.
Chương trình dạy học của Intel Chương trình Dạy học của Intel đã giúp các giáo viên biết cách đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng hợp tác đối với học sinh. Việt Nam là 1 trong 2 nước đầu tiên trên thế giới giới thiệu Khóa học Khởi đầu. Tháng 11/2004, công ty Intel đã ký kết với Bộ Giáo dục Đào tạo bản thỏa thuận thí điểm chương trình trong năm học 2006-2007. Trên cơ sở về thực tế triển khai chương trình, công ty Intel và Bộ Giáo dục Đào tạo sẽ xem xét việc tiếp tục triển khai chương trình trong những năm tiếp theo.
Chương trình Dạy học của Intel được bắt đầu áp dụng thí điểm cho khối phổ thông vào năm 2004.