Đặc điểm văn bản truyện SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức - ĐH Hoa Lư

Phân tích đặc điểm văn bản truyện trong SGK Tiếng Việt tiểu học bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và tiếp nhận của học sinh.

Trường đại học

Trường Đại học Hoa Lư

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2025

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đặc điểm văn bản truyện SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức

Văn bản truyện chiếm vị trí trọng tâm trong chương trình Tiếng Việt tiểu học bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Nguồn ngữ liệu được tuyển chọn kỹ lưỡng. Các văn bản đáp ứng đúng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Bộ sách kết hợp hài hòa giữa truyện dân gian, truyện hiện đại Việt Nam và truyện dịch nước ngoài. Số lượng tác phẩm truyện phân bố hợp lý theo từng khối lớp. Cấu trúc bài học lấy văn bản làm ngữ cảnh khám phá tri thức. Mỗi câu chuyện mở ra một góc nhìn mới mẻ về thế giới xung quanh. Tác phẩm văn học đóng vai trò cầu nối phát triển kỹ năng đọc hiểu. Ngữ liệu truyện cung cấp vốn từ phong phú. Học sinh rèn luyện kỹ năng nghe nói và diễn đạt mạch lạc. Đồng thời, các câu chuyện bồi đắp lòng trắc ẩn và lối sống tích cực. Văn bản truyện trong bộ sách không chỉ phục vụ dạy chữ. Tác phẩm còn định hướng giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh tiểu học.

1.1. Vị trí và vai trò của văn bản truyện trong chương trình

Văn bản truyện giữ tỷ trọng lớn trong hệ thống ngữ liệu đọc hiểu của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Thể loại này gắn liền với từng chủ điểm bài học. Văn bản truyện tạo ngữ cảnh sinh động để học sinh tiếp thu kiến thức tiếng Việt. Trẻ em phát triển vốn từ vựng và ngữ pháp thông qua câu chuyện kể. Kỹ năng đọc diễn cảm và cảm thụ văn học được củng cố liên tục. Truyện kể còn mang lại sự hào hứng trong tiết học. Học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức bài học mà không cảm thấy nhàm chán hay áp lực.

1.2. Phân loại và nguồn gốc tác phẩm truyện được lựa chọn

Hệ thống văn bản truyện trong SGK Tiếng Việt được chọn lọc từ nhiều nguồn khác nhau. Các tác phẩm truyện Việt Nam chiếm số lượng chủ đạo. Nhiều tác giả thiếu nhi nổi tiếng như Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Trần Đức Tiến góp mặt. Bên cạnh đó, sách bổ sung các tác phẩm văn học dịch nước ngoài đặc sắc. Truyện cổ tích, ngụ ngôn và truyện hiện đại cùng xuất hiện cân đối. Sự phối hợp này mở rộng biên độ văn hóa cho học sinh. Các câu chuyện phản ánh đa dạng nếp sống, phong tục và tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

II. Phân tích đặc điểm văn bản truyện SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức

Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của văn bản truyện thể hiện rõ nét tính sư phạm hiện đại. Đề tài truyện xoay quanh thế giới tuổi thơ, tình cảm gia đình, tình bạn và thiên nhiên kỳ thú. Các câu chuyện nhấn mạnh tinh thần vượt khó, lòng hiếu thảo và ý thức bảo vệ môi trường. Về nghệ thuật, cốt truyện thường triển khai theo trình tự thời gian tuyến tính. Diễn biến câu chuyện sáng sủa, ít tình tiết phức tạp, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt mạch truyện. Nghệ thuật khắc họa nhân vật tập trung vào hành động, lời nói và ngoại hình cụ thể. Giọng điệu trần thuật mang tính thủ thỉ, tâm tình và gần gũi. Ngôn ngữ truyện trong sáng, sinh động, giàu thanh âm và hình tượng trực quan. Nhờ đó, văn bản khơi gợi mạnh mẽ trí tưởng tượng của trẻ. Tuy nhiên, dung lượng văn bản bị khống chế chặt chẽ bởi thời lượng tiết học. Người biên soạn phải lược bớt một số chi tiết truyện nguyên bản.

2.1. Đặc trưng cốt truyện tuyến tính và nghệ thuật xây dựng nhân vật

Hầu hết các văn bản truyện trong SGK đều vận dụng kết cấu tuyến tính kinh điển. Sự việc mở đầu dẫn dắt tới xung đột và kết thúc có hậu hoặc để lại bài học ý nghĩa. Cấu trúc này phù hợp tư duy logic trực quan của lứa tuổi tiểu học. Nhân vật trong truyện được xây dựng chân thực qua hành động cụ thể. Ngoại hình nhân vật được miêu tả cô đọng, giàu sức gợi tả. Tính cách nhân vật bộc lộ rõ qua cách đối nhân xử thế và vượt qua khó khăn. Ví dụ như nhân vật Mát trong tác phẩm Khu rừng của Mát thể hiện rõ nghị lực phi thường và lòng hiếu thảo.

2.2. Ngôn ngữ biểu cảm và tính giáo dục sâu sắc trong chủ đề

Hệ thống ngôn từ trong truyện đạt chuẩn mực về thẩm mỹ và đạo đức. Lời thoại của nhân vật tự nhiên, ngắn gọn và mang hơi thở đời thường. Các từ tượng thanh, tượng hình được sử dụng với tần suất cao. Hệ thống từ này tạo ra bức tranh ngôn ngữ sống động, kích thích cảm giác của học sinh. Về nội dung, từng chủ đề đều hướng đến các giá trị phổ quát như lòng nhân ái, sự trung thực và tính tự lập. Các câu chuyện không truyền đạt giáo điều khô khan. Bài học đạo đức ẩn giấu khéo léo sau hành vi của nhân vật. Học sinh tự rút ra bài học nhận thức một cách tự nhiên.

III. Phương pháp dạy học văn bản truyện SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức

Dạy học văn bản truyện theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi sự đổi mới toàn diện phương pháp tiếp cận. Giáo viên cần chuyển từ thuyết giảng một chiều sang tổ chức hoạt động trải nghiệm. Các phương pháp dạy học tích cực nên được áp dụng thường xuyên trong giờ đọc hiểu. Đóng vai, kể chuyện sáng tạo và thảo luận nhóm giúp học sinh nhập tâm vào tác phẩm. Việc phân tích văn bản không nên sa vào lý thuyết hàn lâm. Giáo viên cần tập trung khai thác hành động, lời nói và cảm xúc của nhân vật. Câu hỏi gợi mở nên kích thích học sinh liên hệ bài học với thực tế đời sống. Ứng dụng công nghệ thông tin và hình ảnh minh họa tạo thêm hứng thú học tập. Việc kết hợp sơ đồ tư duy giúp học sinh tóm tắt cốt truyện nhanh chóng và mạch lạc. Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyện sẽ biến tiết học thành không gian sáng tạo và khám phá.

3.1. Kỹ thuật tổ chức hoạt động đọc hiểu và đóng vai nhân vật

Tổ chức đọc hiểu tương tác giúp học sinh tiếp cận tác phẩm tự nhiên. Hoạt động đọc phân vai tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ cảm xúc. Học sinh thay đổi ngữ điệu theo từng nhân vật trong câu chuyện. Việc này rèn luyện sự tự tin và khả năng biểu đạt trước đám đông. Kỹ thuật đóng vai kịch hóa biến nội dung văn bản thành tình huống cụ thể. Qua diễn xuất, học sinh thấu hiểu sâu sắc tâm lý và hành động của nhân vật. Phương pháp này kích thích tư duy phản biện và khả năng ngôn ngữ một cách hiệu quả.

3.2. Vận dụng sơ đồ tư duy và liên hệ trải nghiệm thực tế

Sơ đồ tư duy là công cụ trực quan hóa cốt truyện hữu hiệu. Học sinh dùng sơ đồ để hệ thống lại chuỗi sự việc và các tuyến nhân vật. Phương pháp này giúp ghi nhớ nội dung nhanh và logic hơn. Bên cạnh sơ đồ, việc đặt câu hỏi liên hệ đóng vai trò quyết định. Giáo viên hướng dẫn học sinh kết nối bài học với kinh nghiệm đời sống thực tế. Học sinh tự đối chiếu hành vi của nhân vật với cách ứng xử hàng ngày. Quá trình này chuyển hóa thông điệp văn học thành hành vi đạo đức chuẩn mực trong cuộc sống.

IV. Ứng dụng đặc điểm văn bản truyện SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức

Đặc điểm văn bản truyện trong SGK Tiếng Việt Kết nối tri thức với cuộc sống mang giá trị ứng dụng thực tiễn rất cao. Thể loại này vừa rèn luyện kỹ năng đọc, viết, vừa hình thành phẩm chất nhân cách cho thế hệ trẻ. Giáo viên cần nắm vững đặc trưng thể loại để thiết kế bài giảng phù hợp và sáng tạo. Nhà trường nên tổ chức thêm các buổi đọc sách và sân khấu hóa tác phẩm truyện. Việc này lan tỏa thói quen đọc sách và xây dựng văn hóa đọc bền vững. Phụ huynh cũng có thể ứng dụng các câu chuyện trong SGK để giáo dục con cái tại nhà. Việc trò chuyện về nhân vật giúp trẻ hình thành lối sống trách nhiệm và biết yêu thương. Nghiên cứu văn bản truyện tiếp tục mở ra những góc nhìn hữu ích cho công tác biên soạn và giảng dạy. Tác phẩm truyện chính là nền tảng vững chắc để xây dựng nhân cách cho học sinh tiểu học.

4.1. Ứng dụng trong nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu

Nắm vững đặc điểm văn bản truyện hỗ trợ giáo viên xây dựng giáo án đọc hiểu hiệu quả. Giáo viên dễ dàng xác định trọng tâm kiến thức và kỹ năng cần phát triển cho từng tiết dạy. Các hoạt động học tập tương tác giúp học sinh tiếp thu bài chủ động và phát triển năng lực cảm thụ văn học. Trẻ rèn luyện khả năng phân tích chi tiết cốt truyện và đánh giá phẩm chất nhân vật một cách độc lập. Sự chuyển biến này tạo tiền đề vững chắc cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở các cấp học tiếp theo.

4.2. Phát triển văn hóa đọc và giáo dục đạo đức gia đình

Văn bản truyện là cầu nối tuyệt vời để hình thành thói quen đọc sách cho trẻ ngay tại gia đình. Cha mẹ có thể cùng con đọc và thảo luận về hành động của nhân vật sau mỗi bài học. Những câu chuyện về tình bạn, lòng hiếu thảo và tinh thần học hỏi nuôi dưỡng nhân cách hướng thiện cho trẻ. Trẻ học cách sẻ chia, yêu thương và kiên trì trước các thử thách trong học tập. Thói quen đọc sách từ nhỏ giúp mở rộng vốn hiểu biết và nuôi dưỡng trí tuệ cảm xúc cho trẻ em một cách toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Đặc điểm vb truyện trong sgk tiếng việt tiểu học bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu tác giả miêu tả cảnh sáng sớm đầy thơ mộng: “Sương mù như tấm khăn voan mỏng màu sữa bay la đà trên những khóm cây quanh vườn, trùm lấp một khoảng sân” [1, tr. Câu văn đã miêu tả cảnh sáng sớm thật huyền ảo sau lớp sương mù, hình ảnh so sánh “sương mù như tấm khăn voan mỏng màu sữa” khiến cho màn sương bỗng trở nên mềm mại, kết hợp với từ láy “la đà” thấy được sự di chuyển chậm rãi, dịu dàng như đang dạo chơi. Tiếng hót của các loài chim sẻ thì khi trầm khi bổng, khi nhanh khi chậm, xôn xao cả không gian. Hình ảnh mặt trời cũng được tác giả miêu tả rất sinh động: “sau vòm cây xanh thẫm bỗng nhô lên nửa vành mũ màu đỏ.

Chiếc mũ đỏ to lớn nhô dần lên trên nền trời buổi sớm” hay “giống một chiếc mâm đồng đỏ bay từ từ chiếm lĩnh nền trời xa, rộng” [1, tr. Cách so sánh khéo léo của tác giả giúp cho người đọc hình dung ra được khung cảnh lúc mặt trời mọc thật vi diệu và thú vị. Sự chuyển động của mặt trời như một bức tranh sống động, xen lẫn đó chính là tiếng hót của các loài chim làm cho một buổi sáng tràn đầy nhựa sống. VB “Bài ca về Mặt trời” tác giả không chỉ đơn thuần miêu tả mặt trời mà còn bày tỏ cảm xúc yêu thiên nhiên sâu sắc.

Bài thơ cuối bài như một lời cảm ơn và ngợi ca mặt trời vào mỗi buổi sáng sớm. Thông qua VB, người viết muốn nhắn nhủ với con người rằng: Hãy trân trọng những sự vật quanh ta, mặt trời xuất hiện hàng ngày tưởng chừng như quen thuộc nhưng lại có ý nghĩa to lớn đối với sự sống con người. Chủ đề “Thiên nhiên kì thú” còn được thể hiện qua VB “Xin chào Xa- ha-ra” của Di Li [1, tr. Chắc hẳn khi nhắc đến “sa mạc”, chúng ta sẽ nghĩ đến thời tiết khắc nghiệt nơi đây.

Cái nóng oi bức ban ngày và cái lạnh về đêm. Tuy nhiên khi đến với VB “Xin chào, Xa-ha-ra” của nhà văn Di Li chúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên. Ngay từ đầu VB tác giả đã cảm nhận: “tôi như đi lạc vào phim khoa học viễn tưởng” [1, tr. Tác giả sử dụng phép so sánh tạo nên sự hấp dẫn và thấy được nơi đây thật 17 huyền ảo và bí ẩn.

Bằng cách nói giàu hình ảnh, nhà văn giúp người đọc cảm nhận được cái nóng của sa mạc: “Chúng tôi xuống xe dưới cái nắng như rải lửa khiến tóc của mọi người trở nên giòn tan” [1, tr. Câu văn gợi được cảm giác oi ả và khắc nghiệt của thời tiết nơi đây. Hình ảnh so sánh “cái nắng như rải lửa” tạo cảm giác nóng bức và dữ dội. Tiếp đó, tác giả chỉ ra sự đối lập của thời tiết giữa ngày và đêm.

Nếu ban ngày là cái nắng “cháy da, cháy thịt” thì ban đêm lại là cái lạnh: “Trời tối dần, lạ thay, trời rất mát, thậm chí rất lạnh. Gió thổi lồng lộng kéo bật tóc tôi ra khỏi khăn trùm đầu” [1, tr. Phải chăng đây chính là điều tạo nên sự hấp dẫn nơi đây. Đặc biệt hơn, ngoài những lúc thời tiết khắc nghiệt, nơi đây cũng có những lúc làm rung động lòng người: “Năm giờ sáng trời hửng.

Những cồn cát óng vàng vây quanh những căn lều vuông vắn. Bầu trời nhu nhú ánh bình minh rồi rải nắng non lóng lánh lên những hạt cát mịn” [1, tr. Dưới ngòi bút sinh động, tác giả đã toát lên được khung cảnh hùng vĩ nơi đây và cho thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên không chỉ nằm ở sự trù phú mà còn ở những nơi hoang dã, nguyên sơ. Qua cách miêu tả hấp dẫn, nội dung VB đã cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ do thiên nhiên ban tặng.

Sa mạc khắc nghiệt nhưng lại là nơi cho những con người thích khám phá, trải nghiệm và tác giả không chỉ nhấn mạnh vẻ đẹp nơi đây mà còn muốn gửi gắm thông điệp: Hãy trân trọng và bảo vệ thiên nhiên, khám phá và trải nghiệm những điều mới trong cuộc sống. Chủ đề “Thiên nhiên kì thú” phù hợp với lứa tuổi HS Tiểu học bởi các em rất thích tìm tòi, khám phá và tiếp cận với những tri thức mới mẻ. Qua các VB trong chủ đề không chỉ thêm tri thức, hiểu biết về thiên nhiên mà còn giúp cho HS biết yêu quý, trân trọng môi trường sống xung quanh. Việc tiếp cận qua lăng kính độc đáo của nhà văn giúp HS rèn luyện kĩ năng quan sát, tăng trí tưởng tượng, khơi dậy cho các em sự tìm tòi, sáng tạo, kích thích trí tư duy.

Trên con đường học tập Chủ đề “Trên con đường học tập” gồm 4 VB truyện: Trải nghiệm để sáng tạo, Khổ luyện thành tài, Từ những câu chuyện ấu thơ, Tinh thần học tập nhà Phi-lít. Việc sắp xếp các VB theo trình tự trong chủ đề tạo ra một 18 dòng chảy sư phạm logic: khơi gợi cảm hứng và định hướng mục tiêu ban đầu, sau đó củng cố niềm tin bằng một hình mẫu tự học cụ thể và cuối cùng khuyến khích hành động, vận dụng kiến thức để phát triển khả năng sáng tạo thông qua các trải nghiệm thực tế. Nghệ thuật chân chính luôn đồng hành và phản ánh chân thực cuộc sống. Để chạm đến những giá trị nhân văn, thẩm mỹ cao cả, quá trình sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa những trải nghiệm sâu sắc, cảm xúc chân thành và một tư duy mạch lạc.

Trên con đường học tập, tri thức cũng không chỉ đến từ sách vở mà còn hình thành và bồi đắp từ chính những trải nghiệm sống. Trong VB “Trải nghiệm để sáng tạo” của Phan Thế Quân [1, tr. Tuổi thơ của An-đéc-xen gắn liền với người cha: “Khi An-đéc-xen còn nhỏ, cha thường đưa cậu tới đồng cỏ chơi. Cha làm cho cậu chiếc kính có thể nhìn ra xa…Lên năm tuổi, An-đéc-xen được cha làm cho mấy con rối gỗ.

An-đéc- xen vui sướng cho chúng di chuyển, lắc lư cái đầu và trò chuyện cùng nhau. Cha An-đéc-xen thấy vậy liền dựng một cái sân khấu ngoài sân” [1, tr.98] nhờ có sự đồng hành của cha, tuổi thơ của An-đéc-xen được trải nghiệm nhiều điều và tràn đầy cảm hứng sáng tạo. Chính những trải nghiệm ấy đã bồi đắp tâm hồn nhạy cảm và trí tưởng tượng phong phú nơi cậu bé. Mỗi khi “Quan sát mỗi sự vật, cậu lại liên tưởng đến một câu chuyện kì diệu, rồi kể cho cha nghe” [1, tr.

Qua đó có thể nhận thấy, tình yêu thương, sự lắng nghe và khích lệ từ cha không chỉ đồng hành cùng tuổi thơ An-đéc-xen, mà còn đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển tài năng nghệ thuật của ông. Trong quãng thời gian đầu lập nghiệp tại Cô-pen-ha-ghen, An-đéc-xen phải đối mặt với không ít khó khăn. Ông đi kiếm việc để mưu sinh nhưng vẫn nuôi dưỡng một niềm đam mê cháy bỏng với văn chương. Tác phẩm đầu tay của ông được xuất bản năm 1822 đã đến tay Quốc vương Đan Mạch, nhà vua cảm thấy “rất thích thú, cho gọi An-đéc-xen đến và hỏi ông có tâm nguyện gì.

Ông nói rằng mình muốn đến nhiều nơi để trải nghiệm cuộc sống” [1, tr. Câu trả lời ấy đã cho thấy: với An-đéc-xen, trải nghiệm thực tế mới là cội nguồn nuôi dưỡng sáng tạo. Có thể vì những lẽ đó mà cuốn sách đầu tiên của ông 19 được Quốc vương Đan Mạch thích thú, tặng ông một số tiền để ông thực hiện tâm muốn đi đến nhiều nơi để trải nghiệm cuộc sống. Ông đi nhiều nơi, trải nghiệm nhiều điều, gặp gỡ nhiều người, chứng kiến hiện thực cuộc sống.

Các tác phẩm của ông đều mang tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh, làm lay động trái tim người đọc trên thế giới. Trong những chuyến chu du An-đéc-xen có dịp tiếp xúc với nhiều tầng lớp người khác nhau, từ giới quý tộc đến những con người lao động nghèo khổ. Chính từ những quan sát đó, thái độ sống và quan điểm nhân văn của ông được thể hiện một cách rõ ràng trong sáng tác. “Ông bất bình trước những kẻ coi thường dân nghèo.

Ông thương cảm với bao thân phận bé nhỏ, thiếu may mắn. Ông trân trọng những tâm hồn trong sáng, cao thượng” [1, tr. Những câu chuyện tưởng chừng chỉ để giải trí cho trẻ em thực chất đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội, đồng thời gửi gắm thông điệp về tình thương, sự đồng cảm và khát vọng công bằng. Qua đó thể hiện An-đéc-xen không ngừng học hỏi từ chính cuộc sống xung quanh, để rồi biến trải nghiệm thành nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.

Trong VB “Khổ luyện thành tài” [1, tr.102] cho ta thấy con đường tự học không phải là hành trình ngắn ngủi, mà là quá trình khổ luyện bền bỉ kết hợp với sự chiêm nghiệm từ những bài học tưởng chừng giản đơn. Bài học đầu tiên của thầy Vê-rô-ki-ô yêu cầu vẽ một quả trứng, nhưng mấy ngày hôm sau đều lặp lại một đề bài đã làm cậu HS Lê-ô-nác-đô cảm thấy “cậu cảm thấy chán nản với yêu cầu của thầy giáo, cho rằng thầy coi thường năng lực của mình” [1, tr.102] và không hiểu lý do tại sao thầy chỉ cho vẽ mãi một yêu cầu. Cho đến khi thầy giáo đã chỉ ra rằng, tưởng chừng đơn giản nhưng việc vẽ trứng lại ẩn chứa một bài học sâu sắc về sự quan sát và khổ luyện. Bởi lẽ, trong vô vàn quả trứng, không tồn tại sự trùng lặp tuyệt đối.

Ngay cả một vật thể quen thuộc như quả trứng cũng biến đổi khôn lường dưới những góc nhìn và tác động của ánh sáng. Vì vậy, để tái hiện chân thực hình ảnh, không có con đường nào khác ngoài sự rèn luyện kiên trì và tỉ mỉ. Nhờ sự giảng giải của thầy giáo, tâm hồn Lê-ô-nác-đô không chỉ tiếp nhận tri thức từ thầy, mà quan trọng đã thấm nhuần chân lý sâu sắc về con đường dẫn đến thành công: 20 chỉ có sự khổ luyện bền bỉ và tinh thần tỉ mỉ, trau chuốt trong từng hành động nhỏ mới có thể tạo nên những thành tựu vĩ đại, quyết định vận mệnh cuộc đời. Sự khổ luyện từ việc vẽ trứng đã trở thành nền tảng để ông tiếp cận những đối tượng phức tạp hơn, đồng thời nuôi dưỡng tinh thần tự học suốt đời.

Chính nhờ kiên trì theo đuổi con đường ấy, Lê-ô-nác-đô đa Vin-xi không những vượt qua thầy của mình mà còn trở thành một trong những danh họa vĩ đại nhất thế giới. VB “Từ những câu chuyện ấu thơ” của Nguyễn Nhật Ánh [1, tr.110] nhắn nhủ trong hành trình trưởng thành và học tập, thói quen đọc sách không chỉ mang đến tri thức, mà còn nuôi dưỡng trí tưởng tượng, bồi đắp tình cảm và hình thành nhân cách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ