mở đầu cho quá trình hình thành, phát triển phẩm chất đó đối với các nhà tâm lý học tương lai. Lối tiếp cận đến việc hình thành phẩm chất nhân cách nghề này hướng đến việc tạo lập cơ sở phát triển tính quan sát (năng lực quan sát) và xác định được ý nghĩa của các dữ kiện thu được. Bởi vậy, trong thời gian học tập tại khoa Tâm lý giáo dục hay tại các cơ sở đào tạo nghề tâm lý hơn bao giờ hết người sinh viên phải lĩnh hội được kinh nghiệm tư duy trạng thái xúc cảm của người khác và hình thành cho sinh viên những phẩm chất nghề, đặc biệt là phẩm chất thấu cảm. [1] Theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Uyên trong đề tài: “Mức độ hành động của thấu cảm ở sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, SV trường ĐHSP TP.HCM có mức độ hành động của thấu cảmnói chung và mức độ hành động của thấu cảmở từng mặt (thấu cảm cảm xúc, thấu cảm nhận thức) đều ở mức cao.
Kết quả so sánh cho thấy SV có ĐTB thấu cảm cảm xúc cao bơn ĐTB thấu cảm nhận thức, tuy nhiên sự chênh lệch không đáng kể. Hai mặt của mức độ hành động của thấu cảmcó sự ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhiều. SV trường ĐHSP TP.HCM tự đánh giá mức độ hành động của thấu cảmcủa bản thân thấp hơn so với đánh giá khách quan từ các câu hỏi tình huống. Có sự khác biệt về mức độ hành động của thấu cảmcủa SV trường ĐHSP TP.HCM theo giới tính, năm học, khối ngành và hệ đang theo học.
Số ngày hoạt động tình nguyện của SV có ảnh hưởng tích cực đến mức độ biểu hiện thấu cảm. [2] Nhìn chung tại Việt Nam đã có một số tác giả quan tâm đến các vấn đề về cảm xúc, cảm nhận cảm xúc, thể hiện cảm xúc trong các mối quan hệ. Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu và tìm hiểu sâu về thấu cảm, ở mặt lý luận lẫn thực tiễn. Mặt khác, sự thiếu phân biệt giữa sự cảm thông và sự đồng cảm trong tình cảm có thể tạo ra khó khăn trong việc đo lường hoặc can thiệp ở nhóm dân nhất định.
Điều này có thể khởi nguồn từ việc thấu cảm không phải lúc nào cũng nhất quán với cảm xúc được mô tả, trong khi cảm xúc thứ hai (tức là sự đồng cảm) thì có. Khái niệm Trong khi thuật ngữ “Đồng cảm” đã có truyền thống lâu đời thì thuật ngữ “thấu cảm” đáng ngạc nhiên là chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ trước. Từ “thấu cảm” xuất 16 hiện trong từ điển tiếng Anh vào cuối thập kỉ 80 với ý nghĩa thiên nhiều về lĩnh vực tâm lí học, nhất là tâm lí học tích cực (positive psychology) và tham vấn tâm lí (counseling). Theo các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ “thấu cảm” (empathy) xuất phát từ từ nguyên là “empatheia”, trong tiếng Hy Lạp (em + pathos) có nghĩa là nhập vào - cái gì gợi ra cảm xúc ở người khác; đầu thế kỷ 20 đi vào tiếng Anh thành “empathy”, tiếng Đức: Einfühlung.
“Thấu cảm” mặc dù đã có trong từ điển tiếng Việt song là một từ Hán Việt nên thường không được sử dụng nhiều trong cuộc sống. Theo lí giải của các chuyên gia ngôn ngữ “thấu” là xuyên qua, “cảm” là cảm nhận, cảm thụ, cảm thấy do đó “thấu cảm” được hiểu là thấu hiểu và cảm thông một cách sâu sắc. Thêm vào đó, từ điển tiếng Việt của tác giả Lưu Văn Hy định nghĩa “thấu cảm là có sự đồng cảm, hiểu nhau” (Lưu Văn Hy, 2009, tr. [5] Năm 2006, Karl Albrecht đề xuất mô hình trí tuệ xã hội S., trong đó “thấu cảm” chính là một trong năm thành tố của mô hình này, được tác giả định nghĩa là “khả năng kết nối, cảm thông với những người xung quanh dựa trên sự thấu hiểu và chia sẻ quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc, … của họ” (Karl Albrecht, 2006).
Tương tự, Peter Salovey và John D. Mayer cũng xem “thấu cảm” là một trong 5 thành tố của mô hình trí tuệ cảm xúc, được xác định là khả năng thấu cảm, đánh giá đúng, thúc đẩy và truyền cảm hứng, khuyến khích và an ủi người khác (Phan Trọng Ngọ, 2001, tr. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa thấu cảm là “hình dung hoàn cảnh sống của người khác mà có khi họ còn xa lạ với ta “ (Ngô Thị Thạch Thảo, 2013, tr. Nhà tham vấn không xúc động, mà là hiểu và cảm nhận về sự kiện xảy ra với thân chủ, bằng góc nhìn của thân chủ.
(Capuzzi & Gross, 1999) [13] Thấu cảm, theo V. Boyko, “Thấu cảm là một hình thức phản ánh lý trí-cảm xúc-trực quan của người khác, cho phép một người vượt qua sự phòng vệ tâm lý của mình và hiểu được nguyên nhân và hậu quả, tính chất, trạng thái, phản ứng - để dự đoán và xác định đầy đủ ảnh hưởng đến hành vi của người khác”. 17 Trên cơ sở các quan điểm nêu trên, cho phép đề tài hiểu khái niệm thấu cảm là thuộc tính tâm lý, vừa là phẩm chất cũng vừa là năng lực phản ánh lý trí, cảm xúc và trực cảm về người khác, đồng thời thể hiện hành động vì người người khác. Định nghĩa tôi sử dụng ở đây cũng là định nghĩa của tác giả Boiko: “Thấu cảm là một hình thức phản ánh lý trí-cảm xúc-trực quan của người khác, cho phép một người vượt qua sự phòng vệ tâm lý của mình và hiểu được nguyên nhân và hậu quả, tính chất, trạng thái, phản ứng - để dự đoán và xác định đầy đủ ảnh hưởng đến hành vi của người khác”.
[43] Tôi nhận định rằng đây là định nghĩa mang tính chất toàn diện, phù hợp với vấn đề lựa chọn và định hướng nghiên cứu của đề tài. Biểu hiện của thấu cảm Khả năng thấu cảm thể hiện qua việc xác định được vị trí của mình và đối phương trong các tương tác xã hội, đặt mình vào vị trí của đối phương để thấu hiểu quan điểm, cảm xúc và động cơ hành vi của họ (Kiều Thị Thanh Trà, 2013, tr. Sự thấu cảm thể hiện ở việc người đó nhận thức được tình cảm, nhu cầu và các mối quan tâm của người khác. Khả năng thấu cảm thể hiện qua việc đọc suy nghĩ qua giao tiếp, nhạy cảm trong giao tiếp, khả năng sẵn sàng cảm nhận cảm xúc của người khác.
là một dạng phẩm chất Trong các phiên tham vấn trị liệu, nhà tham vấn biểu hiện sự thấu cảm của mình với thân chủ bằng cách: không ngắt lời thân chủ, không gạt bỏ niềm tin của thân chủ, không phán xét và không đưa ra quá nhiều lời nhận định chung (Joaquin Selva, 2017). Trong đề tài này, các mức độ hành động của thấu cảmdựa trên việc phân tích từng yếu tố được nêu ra trong nghiên cứu các đặc điểm năng lực thấu cảm ở sinh viên - nhà tâm lý tương lai chúng tôi dùng phương pháp quan sát và bản trắc nghiệm nghiên cứu các năng lực thấu cảm (Boiko VV). Thang đo đã được tác giả chỉ rõ các biểu hiện và phân chúng vào 06 mặt biểu hiện cụ thể: 1. Kênh hợp lý (lí trí) của thấu cảm là hướng chú ý, tri giác và tư duy của con người đến sự hiểu biết bản chất của người khác bất kỳ, đến trạng thái, các vấn đề và hành vi của người đó.
Kênh cảm xúc của thấu cảm phản ánh khả năng của người thấu cảm có thể nhập vào cộng hưởng cảm xúc với những người khác - để cảm thông và thấu cảm. Xúc 18 cảm của tính trực quan của thấu cảm trở thành phương tiện xâm nhập vào vùng tiềm năng của đối tác. Kênh trực quan của thấu cảm cho phép con người có thể dự đoán hành vi của các đối tác, hoạt động trong các điều kiện thiếu hụt thông tin cơ bản về đối tác, phải dựa trên kinh nghiệm đã được lưu giữ trong tiềm thức. Phương hướng ủng hộ hoặc cản trở thấu cảm.
Hiệu quả của sự thấu cảm sẽ giảm nếu con người cố gắng tránh những tiếp xúc cá nhân, cho rằng sự tò mò về người khác là không thích hợp, tự thuyết phục mình cần bình tĩnh với những kinh nghiệm và mối quan tâm của người khác. Với những lập luận như vậy thì đôi khi làm hạn chế phạm vi tính trực quan của thấu cảm của cảm xúc và tri giác thấu cảm. Khả năng “xuyên thấu” của thấu cảm chỉ tính chất giao tiếp quan trọng của con người cho phép tạo ra một không khí cởi mở và tin cậy, sự thân mật. Khả năng đồng nhất – là điều kiện quan trọng để thấu cảm thành công.
Đây là khả năng hiểu được người khác trên cơ sở của sự thấu cảm, đặt mình vào vị trí của người khác. Sự hình thành thấu cảm Mặc dù người ta hiểu rằng hầu hết con người sinh ra đều có sự thấu cảm và cao hơn là sự thấu cảm, nhưng nó cũng được coi là một kỹ năng có thể học và dạy được (Feshbach & Feshbach, 2009; Jeffery & Downie, 2016) [22]. Nếu điều này là đúng thì nuôi dưỡng sự thấu cảm đề cập đến những cách mà một người có thể khám phá và thực hành xây dựng kỹ năng thấu cảm để trở thành một con người thấu cảm hơn về mọi mặt. Vai trò của thấu cảm o Trong tham vấn Thấu cảm được xem như một yếu tố vô cùng quan trọng trong tham vấn nói riêng trong công tác xã hội nói chung.
Trong tâm lý trị liệu, Traux đã tìm ra mối quan hệ giữa thấu cảm trị liệu - sự nồng ấm thân thiện, sự chân thành và sự thay đổi nhân cách. Rogers với hàng ngàn nghiên cứu đã chỉ ra rằng Thấu cảm là trung tâm của sự thành công trong trị liệu. 19 Flauder cho rằng Thấu cảm là kỹ năng quan trọng đối với một giáo viên trong tương tác và giáo dục học sinh. Vì sao? Về phía nhà tham vấn: - Thấu cảm là chiếc chìa khoá để tạo lập mối quan hệ tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ từ đó có được sự hợp tác của thân chủ trong giải quyết vấn đề.
- Giúp nhà tham vấn khai thác những thông tin quan trọng cho quá trình giúp đỡ của mình - Giúp nhà tham vấn hiểu thân chủ và tình huống của thân chủ một cách chính xác để từ đó cùng thân chủ đưa ra giải pháp tối ưu nhất cho đối tượng. - Là yếu tố tham gia vào sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của nhà tham vấn. Về phía thân chủ: - Giúp thân chủ cảm thấy được hiểu và được chia sẻ từ đó họ giải toả được tâm lý nặng nề mặc cảm của bản thân.