Chương 1 TỔNG QUAN 1. Các quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt 1. Định nghĩa thẩm mỹ khuôn mặt Thuật ngữ thẩm mỹ khuôn mặt lần đầu tiên được sử dụng bởi Baumgarten để nói về khoa học của cảm giác mà nghệ thuật đã tạo ra [4]. Từ đó thuật ngữ thẩm mỹ đã trải qua một chặng đường phát triển dài bắt đầu từ Platon đến Aristote, Hegel.
Mỗi một nhà triết gia có một định nghĩa khác nhau về thẩm mỹ, nhưng nhìn chung tất cả các nhà triết gia này đều thống nhất rằng để có được thẩm mỹ thì cần phải có cả sự cân xứng và hài hoà [5]. Theo Hegel, sự đều đặn và hài hoà và là các đặc tính của thẩm mỹ [4]. Quan niệm thẩm mỹ trên thế giới theo chuyên ngành khác nhau * Quan niệm của chỉnh hình Angle là người đặt nền móng ban đầu cho ngành chỉnh hình răng mặt. Angle luôn nghĩ rằng nếu có một khớp cắn đúng thì thẩm mỹ khuôn mặt là bình thường, ông cũng đã mô tả các trường hợp có những bất thường về khớp cắn thì khuôn mặt cũng có bất thường đáng kể.
Tweed đã nhấn mạnh rằng nếu răng cửa dưới nằm đúng vị trí thì khuôn mặt nhìn nghiêng sẽ hài hòa. Theo Ricketts, để đánh giá một khuôn mặt thì cần phân tích trong ba chiều không gian. Ông cho rằng không thể có một con số tuyệt đối lý tưởng nhất mà các mối tương quan bình thường sẽ nằm trong một khoảng rộng. Khi phân tích thẩm mỹ mặt nghiêng, ông đưa ra khái niệm về đường thẩm mỹ được vẽ từ đỉnh mũi đến điểm nhô nhất của cằm là đường thẩm mỹ E (E-line) để mô tả tương quan môi miệng với các cấu trúc lân cận.
Ông cho rằng đối với một người da trắng trưởng thành bình thường, hai môi sẽ nằm sau đường E, đường nét nghiêng của hai môi trên đều đặn và miệng khép kín nhưng không bị căng [6]. 1: Đường thẩm mỹ E [6]. Steiner đưa ra đường thẩm mỹ S là đường thẳng đi qua điểm nhô nhất của mô mềm vùng cằm và điểm giữa đường viền chân mũi. Theo Steiner, một khuôn mặt hài hoà thì môi trên và môi dưới sẽ chạm đường thẩm mỹ S.
2: Đường thẩm mỹ S [6]. Burstone và cộng sự (1978) đã dựa vào đường thẳng đi qua điểm Sn (Subnasale) và Pog (Pogonion) mô mềm để đánh giá tương quan môi trên và dưới theo chiều trước sau. Để đánh giá độ nhô hay lùi của hai môi ông vẽ đường thẳng góc từ điểm nhô nhất của hai môi xuống đường thẳng đi qua Sn và Pog. Ông cho rằng ở người trưởng thành có mặt nghiêng hài hòa với khớp cắn loại I thì các điểm nhô nhất của hai môi sẽ nằm trước đường này từ 2 - 3 mm [6].
Simon và Izard lại cho rằng để có nét hài hòa ở nét mặt nghiêng, môi trên, môi dưới và cằm đều phải nằm giữa hai mặt phẳng: mặt phẳng thẳng đứng vuông góc với mặt phẳng Frankfort và đi qua Glabella mô mềm (mặt phẳng Izard) và mặt phẳng đứng vuông góc với mặt phẳng Frankfort và đi qua Orbital mô mềm (mặt phẳng Simon). 4 * Quan niệm của nhà phẫu thuật Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ đầu tiên được ứng dụng cho những bệnh nhân có tổn thương mô mềm do bỏng, thông qua phương pháp cấy ghép da và chỉnh hình thẩm mỹ khuôn mặt. Sau đó, nó mở rộng phạm vi để điều trị thêm cho các bệnh lý hàm mặt khác như: khe hở vòm miệng, lệch một bên mắt hay chấn thương gẫy xương sống mũi. Như vậy ban đầu phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ hướng đến phục hồi lại các cấu trúc cho bệnh nhân gặp phải các bệnh lý hay chấn thương và các nhà phẫu thuật thường dựa những số liệu bình thường có sẵn để phẫu thuật cho bệnh nhân.
Do đó, điều này dẫn đến có thể có những sai lầm nếu áp dụng các số liệu chuẩn nhưng không phù hợp với các dân tộc khác nhau. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao, không chỉ là phẫu thuật phục hồi các cấu trúc bị tổn thương mà còn phẫu thuật để cải thiện về mặt thẩm mỹ. * Quan niệm của hoạ sĩ và nhà điêu khắc Các hoạ sĩ và nhà điêu khắc lại có những ý tưởng rõ ràng hơn về cái gì là bình thường và cái gì là đẹp. Họ còn cho thấy giữa chủng tộc và văn hoá có những nét đẹp khác nhau.
Quan niệm về khuôn mặt đẹp của họ ít nhiều bị ảnh hưởng của các trường phái nghệ thuật và các tác phẩm nghệ thuật của các bậc tiền bối [7]. Năm 1959, Golman nghiên cứu trên ảnh chụp của 160 người đàn ông và đàn bà da trắng, khuôn mặt dễ thương và 50 bức ảnh đẹp nhất được lựa chọn bởi Trường nghệ thuật Herron và Viện nghệ thuật Buffalo. Sau đó, các bác sĩ chỉnh hình đánh giá 50 ảnh này (các bác sĩ chỉnh hình thường thích khuôn mặt nghiêng phẳng hoặc hơi lõm). Kết quả cho thấy vào thời gian đó, có sự khác nhau về quan niệm về cái bình thường và cái đẹp giữa các bác sĩ chỉnh hình và các họa sĩ.
Fra Paccioli di Borgio đã xuất bản cuốn sách vào năm 1509 viết về các tỷ lệ trong thẩm mỹ, trong quyển sách này tác giả cũng đã nhấn mạnh đến “tỷ lệ vàng”. "Tỷ lệ vàng" là một tỷ lệ vô tỷ: tỷ lệ giữa phần lớn nhất và phần nhỏ nhất của 2 phần cũng bằng tỷ lệ của cả 2 phần đó với phần lớn nhất, (a+b)/b = b/a. Khi đoạn nhỏ nhất bằng 0,618 và đoạn lớn là 1 cả đoạn là 1.61 thì qui luật này mới có thể đạt được [7]. Phân tích mô mềm khuôn mặt 1.
Đánh giá mặt thẳng a, Hình dạng khuôn mặt Tỉ lệ giữa độ rộng khuôn mặt và chiều cao khuôn mặt có ảnh hưởng trự tiếp đến sự hài hòa của khuôn mặt. Tỉ lệ giữa chiều cao/chiều rộng khuôn mặt là 1.35:1 ở nam và 1,3:1 ở nữ. Độ rộng góc hàm của xương hàm dưới nên ít hơn khoảng 30% so với độ rộng theo chiều ngang giữa 2 gò má. Dạng khuôn mặt ngắn và vuông thường liên quan đến một sai khớp cắn hạng II xương có kèm khớp cắn sâu, xương hàm trên kém phát triển theo chiều dọc, cường cơ cắn hoặc cằm quá phát.
Trong khi dạng mặt dài, hẹp thường liên quan đến quá phát xương hàm trên theo chiều dọc, mũi hẹp, xương hàm dưới thiểu sản theo chiều trước sau hay cằm kém phát triển. 3: Các dạng khuôn mặt [8]. Theo chiều ngang Khuôn mặt được chia làm 5 phần và mỗi phần xấp xỉ bằng độ chiều rộng của mắt. 1/5 ngoài cùng được đo từ trung tâm vành tai đến khỏe mắt ngoài mỗi bên.
1/5 tiếp theo của mỗi bên được đo từ khóe mắt ngoài đến khóe mắt trong từng bên. Đường thẳng kẻ qua khóe mắt ngoài của từng bên nền đi qua điểm góc hàm của xương hàm dưới. Ở bệnh nhân với tình trạng cường cơ cắn thì điểm góc hàm này sẽ nằm lệch về phía ngoài còn với kiểu mặt dài thì điểm góc hàm sẽ nằm lệch về gần đường giữa hơn so với đường này. 1/5 giữa của khuôn mặt được đo bằng khoảng cách giữa 2 khóe mắt trong.
Đường thẳng qua điểm khóa mắt trong nên đi qua điểm chân cánh mũi mỗi bên. 4: Sự cân đối theo chiều ngang [8]. Sự cân xứng khuôn mặt Để đánh giá sự cân xứng của khuôn mặt, một đường thẳng tưởng tượng sẽ kẻ qua điểm Glabella mô mềm, Pronasale, điểm chính giữa nhân trung môi trên, môi dưới và điểm Pog' mô mềm. Đường giữa của cung răng hàm trên và hàm dưới có sự liên quan với đường giữa mặt cũng như mối tương quan lẫn nhau.
Quan sát mối liên quan này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc lên kế hoạch và quyết định về việc dùng phương án phẫu thuật hay chỉnh nha để điều chỉnh đường giữa của răng. Nó cũng quan trọng trong việc đánh giá mối liên quan giữa đường giữa răng cửa hàm dưới và đưởng giữa cằm. Những thông tin này sẽ hỗ trợ cho việc lên kế hoạch điều trị bất cân xứng xương hàm dưới bằng chỉnh hình xương hoặc chỉnh hình cằm hay có sự kết hợp cả hai phương pháp. Tất nhiên không có một khuôn mặt nào là cân xứng tuyệt đối hoàn toàn, tuy nhiên để có được thẩm mỹ khuôn mặt đẹp thì không nên có bất kì sự không cân xứng quá hiển nhiên nào trên khuôn mặt [8].
5: Sự cân xứng giữa các tầng mặt [8]. Tương quan theo chiều dọc Theo chiều dọc, khuôn mặt được chia làm 3 tầng mặt: (1) 1/3 trên (từ đường chân tóc (điểm Trichion) đến điểm Glabella (2) 1/3 giữa (từ điểm Glabella đến điểm Subnasale) (3) 1/3 dưới (từ điểm Subnasale đến điểm Menton). a, Tầng mặt trên Sự dị dạng tại 1/3 trên của khuôn mặt thông thường được che đi bởi kiểu tóc thích hợp. Tuy nhiên kể từ khi có thể có biểu lộ tinh trạng dị dạng sọ mặt thì đây là điều quan trọng để ghi lại sự dị dạng tại vùng này.
b, Tầng mặt giữa Đường thẳng dọc giữa khuôn mặt nên đi qua mũi, trung tâm của môi, điểm giữa của cằm (ở tầng mặt dưới). Đường cong của xương gò má, nền mũi và môi trên là đường cong thuận tiện để đánh giá sự hài hòa của các cấu trúc tầng mặt giữa. Đường này nên có dạng cong liên tục và mềm mại, nó được bắt đầu từ phía trước tai, mở rộng ra phía trước đến phần xương gò má, sau đó chạy ra trước xuống dưới qua xương hàm trên liền kề chân cánh mũi, kết thúc tại phía bên khóe miệng. Một sự gián đoạn của đường cong này có thể biểu hiện sự xuất hiện của một dị dạng xương nào đó.
c, Tầng mặt dưới Tỉ lệ giữa 1/3 giữa và 1/3 dưới khuôn mặt nên là 5:6. Chiều dài môi trên từ điểm chân cánh mũi (Sn) đến điểm thấp nhất môi trên (Sts) nên bằng 1/3 chiều cao tầng mặt dưới. Chiều dài môi dưới từ điểm cao nhất môi dưới (Stmi) đến điểm thấp nhất mô mềm của cằm (Me") nên bằng 2/3 chiều cao tầng mặt dưới. Chiều dài môi trên được đo từ Sn-Stms bình thường là 22±2mm với nam và 20±2mm với nữ.
Nếu môi trên có chiều dài ngắn, khoảng trống giữa hai môi sẽ có xu hướng rộng hơn bình thường và độ lộ răng cửa trên tăng lên với chiều cao tầng mặt dưới bình thường. Chiều dài môi dưới được đo từ Stmi-Me’ bình thường là 40±2mm đối với nữ và 44±2mm đối với nam. Trong trường hợp khớp cắn sâu môi dưới thường có chiều dài ngắn cho tác động của răng cửa trên. Chiều dài môi dưới liên quan mật thiết đến chiều cao răng cửa hàm dưới.