Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS TRONG HỌC TẬP 1. Tổng quan các nghiên cứu về stress trong học tập của sinh viên 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đền stress và stress trong học tập được các tác giả trên thế giới nghiên cứu.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Theo nghiên cứu của R. Beiter và cộng sự tại Đại học Franciscan, bang Ohio, cho thấy có 38% số sinh viên là có stress, đặc biệt 11% số sinh viên ở mức stress nặng và rất nặng [1]. Một nghiên cứu khác tại trường Đại học Uludag, Thổ Nhĩ Kỳ của Nuran Bayram và Nazan Bilgel, cũng cho thấy có tới 48,2% số sinh viên có stress, (6,9%) là stress nặng.[2] Vào ngày 22 tháng 5 năm 2006, nhóm tác giả gồm Robert Spitzer, Kurt Kroenke, Janet BW Williams, Bernd Lowe tại phòng nghiên cứu Sinh trắc học, Viện Tâm thần Bang New York, Hoa Kỳ đã đi vào nghiên cứu một biện pháp ngắn gọn để đánh giá chứng rối loạn lo âu tổng quát: GAD-7. Lí do nghiên cứu, rối loạn lo âu tổng quát (GAD) là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất; tuy nhiên, không có biện pháp lâm sàng ngắn gọn nào để đánh giá GAD.
Mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển một thang đo tự báo cáo ngắn gọn để xác định các trường hợp có thể xảy ra của GAD và đánh giá độ tin cậy và tính hợp lệ của nó. Với phương pháp nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn được thực hiện tại 15 phòng khám chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005. Tổng số 2740 bệnh nhân trưởng thành hoàn thành bảng câu hỏi nghiên cứu, 965 bệnh nhân đã có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với chuyên gia sức khỏe tâm thần trong vòng 1 tuần. Nhóm tác giả đưa ra thang điểm lo lắng gồm 7 mục (GAD-7) có độ tin cậy tốt, cũng như tính hợp lệ của tiêu chí, cấu trúc, giai thừa và thủ tục.
Một điểm cắt được xác định là độ nhạy tối ưu (89%) và độ đặc hiệu (82%). Kết quả cho thấy GAD-7 là một công cụ hợp lệ và hiệu quả để sàng lọc GAD và đánh giá mức độ nghiêm trọng của nó trong thực hành và nghiên cứu lâm sàng [3]. Vào tháng 1 năm 2016, nhóm các tác giả gồm D Kunwar, A risal và S Koirala thuộc trường khoa học y tế Đại học Kathmandu, Dhulikhel, Kavre, Nepal đã đi vào nghiên cứu về chứng trầm cảm, lo âu và căng thẳng của các sinh viên Y khoa tại hai trường Cao đẳng Y tế của Nepal. Với lý do chọn đề tài, các cơ sở giáo dục y khoa luôn chuẩn bị cho các 5 sinh viên tốt nghiệp có một sức khỏe tốt, nâng cao để chăm sóc cho người bệnh.
Vì thế mà các sinh viên Y tế phải đối mặt với nhiều tác nhân căng thẳng trong học tập, điểm số, sức khỏe. Điều này, làm dẫn đến các chứng bệnh liên quan đến tâm lý và thần kinh ở sinh viên. Với mục tiêu nhằm xác định tỉ lệ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng của các sinh viên y khoa ở Nepal và mối liên quan của nó với xã hội học. Với phương pháp nghiên cứu dựa trên bảng câu hỏi cắt ngang, khảo sát và phân tích dữ liệu.
Qua các phương pháp, nhóm tác giả đã đưa ra kết quả với những số liệu cụ thể. Với 538 sinh viên tham gia vào nghiên cứu, và có 89,6% phản hồi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm là 29,9%, tỉ lệ lo lắng là 41,1% và tỉ lệ căng thẳng là 27% [4]. Theo nghiên cứu, “Trầm cảm, lo âu và căng thẳng trong số các sinh viên đại học của Thủ đô Pokhara, Nepal” của Shishir Paudel, Himlal Gautam, Chiranjivi Adhikari, Dipendra Kumar Yadav.
Nghiên cứu được thực hiện trên 681 sinh viên chưa tốt nghiệp từ các cơ sở giáo dục khác nhau cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng của những sinh viên tham gia lần lượt là 38,2%, 46,9% và 24,1%. Họ nhận ra rằng mức độ trầm cảm và căng thẳng không liên quan đến những yếu tố học tập. Mà là các yếu tố chính đấn đến mức độ trầm cảm, căng thẳng là do giáo dục của cha mẹ, tiền sử gia đình về rối loạn tâm thần, lòng tự trọng và kết quả học tập [5].2 Các nghiên cứu ở trong nước Trong khi trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gây stress trong học tập ở sinh viên thì tại Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về chủ đề này còn khá hạn chế. Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tìm hiểu chung về các nguồn gây stress mà các vấn đề trong học tập chỉ là một phần.
Các nguồn gây stress trong học tập trong những nghiên cứu này thường không được xác định rõ ràng hoặc không có số liệu thống kê cụ thể. Theo tạp chí tâm lý học, số 3 (120),3 - 2009, tác giả Nguyễn Hữu Thụ trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nghiên cứu về nguyên nhân stress của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009. Các nguồn gây stress trong học tập được mô tả bao gồm áp lực thi cử, vấn đề về trang thiết bị, thiếu giáo trình, thiếu sách chuyên ngành, chương trình học quá nặng, bài tập quá nhiều. Dựa theo số liệu thống kê, nhóm những vấn đề này 6 được xếp thứ tự về mức độ tác động so với các nhóm nguồn gây stress khác.
Tuy nhiên, nghiên cứu không báo cáo số liệu phản ánh rõ mức độ ảnh hưởng của mỗi tình huống hay vấn đề cụ thể này đối với sinh viên. Điều này gây ra hạn chế trong việc vận dụng các kết quả vào thực tế sử dụng phương pháp trắc nghiệm đánh giá mức độ stress của hai nhà tâm lý học Nga là T. Kết quả cho thấy có tới 79,01% sinh viên có stress ở mức độ nhẹ. Số sinh viên bị stress trước mùa thi cao hơn số sinh viên bị stress đầu năm học[6].
Năm 2010, nhóm tác giả gồm Lê Thu Huyền, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh đã đi vào nghiên cứu tình trạng mắc stress trên đối tượng sinh viên ở Việt Nam. Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tình trạng mắc stress và các yêu tố liên quan của sinh viên Y Tê’ Công Cộng (YTCC) Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh (ĐHYD TPHCM), Việt Nam. Với phương pháp nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả trên 182 sinh viên YTCC- DHYD TPHCM. Qua các phương pháp, kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên bị stress bệnh lý chiếm tỉ lệ khá cao với 24,2%, trong đó có 2,8% sinh viên bị stress bệnh lý nặng.[7] Năm 2012, tập 16, số 1 của tác giả Trần Kim Trang đã nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa nhằm tìm ra những biểu hiện tiêu cực và tác hại cho cơ thể như mọi dạng stress khác nhưng có tác nhân, tỉ lệ, mức độ khác nhau giữa các cấp học và giữa các trường.Sử dụng phương pháp thiết kế cắt ngang mô tả dựa trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 6/2011.
Sử dụng thang đánh giá DASS -21. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa. 52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên.[8] Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thành Khải, xuất bản năm 2001 nghiên cứu cơ sở lý luận về stress ở cán bộ quản lý; khảo sát thực trạng, mức độ hiểu biết, hậu muả, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở cán bộ quản lý; các phương pháp làm giảm stress ở cán bộ quản lý. Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Nguyễn Thị Hiên 7 xuất bản năm 2013 nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim — mạch, tâm thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi, 2013.[9] Nghiên cứu của Vũ Dũng (2016) cho thấy những sinh viên phải chịu áp lực học tập cao thì có mức độ stress cao gấp ba lần so với những sinh viên chịu áp lực thấp.
Tìm hiểu cụ thể hơn về nguồn gây stress trong học tập, các nghiên cứu trước đây cho thấy các vấn đề và tình huống liên quan đến học tập thường khiến sinh viên rơi vào tình trạng stress bao gồm các khó khăn trong tiếp thu, làm bài tập,kiểm tra và thi cử, và kết quả hay hiệu quả học tập.[10] Thạc sĩ Tâm lý học Nguyễn Thị Bình vào năm 2015 đã viết luận văn nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm” và tiến hành khảo sát trên 600 sinh viên của các khoa - trường: Tâm lý - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Lịch sử - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Cơ khi - Đại học Bách Khoa, Kế toán Đại học Kinh tế Quốc dân, Tâm lý - Học viện Quản lý Giáo dục. Y đa khoa - Đại học Y Hà Nội thông qua các phương pháp điều tra bằng câu hỏi, phỏng vấn sâu và thống kê toán học. Các số liệu thu thập được trong công trình nghiên cứu cho thấy nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm là chưa cao.
Khi được đặt câu hỏi là Theo bạn, những nguyên nhân nào có thể dẫn đến trầm cảm? thì tỷ lệ sinh viên cho rằng nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố tâm lý (quan hệ bạn bè, người thân, áp lực học tập, áp lực xã hội.) chiếm 69,5%, còn 8,7% cảm thấy nguyên nhân của rối loạn trầm cảm là do các yếu tố sinh lý (thương tổn não bộ).[11] Vào tháng 7 năm 2020, nhóm tác giả gồm Nguyễn Trúc Thanh, Nguyễn Thị Bích Nguyên và Lê Kim Phụng đã nghiên cứu thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên đại học năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai. Mục đích nghiên cứu này là khảo sát mô tả cắt ngang có phân tích tỷ lệ căng thẳng, lo âu và trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược (năm học 2019-2020). Bao gồm 134 sinh viên Dược năm cuối của Đại học Công nghệ Miền Đông và Đại học Lạc Hồng tại tỉnh Đồng Nai. Sử dụng phương pháp phân tích cắt ngang được thực hiện bằng cách sử dụng phiên bản ngắn của bảng câu hỏi Thang đo trầm cảm, lo âu và căng thẳng (DASS21) và các câu hỏi khảo sát nhân khẩu học.
Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh bị căng thẳng, lo âu, và trầm cảm là 16,4%, 29,8% (lo âu nặng 8 chiếm 6%) và 38,8% (lo âu nặng chiếm 0,7%).