CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG GHI NHỚ TRUYỆN KỂ CHO TRẺ 4-5 TUỔI QUA VIỆC VẬN DỤNG HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài Căn cứ vào cuốn đại Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), từ điển Giáo dục học của Bùi Hiền (chủ biên) và các tài liệu liên quan, chúng tôi rút ra được các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau: 1. Nâng cao Nâng cao là đưa một sự vật hiện tượng nào đó lên một mức cao hơn. Khả năng Khả năng là kỹ năng thực hiện một công việc nào đó, có thể là về thể chất, tinh thần hoặc ngôn ngữ, âm nhạc hay bất kỳ lĩnh vực nào.
Ghi nhớ Là một trong những quá trình cơ bản của trí nhớ thể hiện ở sự ghi lại trong óc và giữ vững ở đó những cảm giác, những hình ảnh tri giác, những ấn tượng, những suy nghĩ, tình cảm và hành động đã từng trải. Truyện kể Truyện kể là một tác phẩm văn học thuộc loại tự sự. Các thể loại truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài đều là những thể loại rõ rệt nhất thuộc loại hình tự sự. Nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể Là năng lực tạo dấu vết của câu chuyện trên vỏ não, gắn câu chuyện với những tri thức đã có trong quá trình nhớ.
Hệ thống Hệ thống là tập hợp gồm nhiều phần tử có các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục đích chung. Phương pháp Phương pháp là cách thức làm việc chung của giáo viên và trẻ em dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp trẻ tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen mới phát triển năng lực nhận thức và góp phần xây dựng nền móng ban đầu của nhân cách con người mới. Trực quan Là thông qua các giác quan để trẻ cảm nhận, nhìn thấy một sự vật, sự việc nào đó. Hệ thống phương pháp trực quan Là nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan để giúp trẻ trực tiếp quan sát tài liệu mới, trên cơ sở đó hình thành những biểu tượng, khái niệm, phát triển các thao tác tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ cho trẻ.
Nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 - 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan Là cách sử dụng những vật hoặc những biểu tượng của sự vật nhằm củng cố cho trẻ hình tượng về các nhân vật trong truyện thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan, giúp trẻ 4 - 5 tuổi ghi nhớ truyện tốt hơn. Đặc điểm tâm lý của trẻ 4 – 5 tuổi 1. Hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành: “Xã hội trẻ em” Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, đặc biệt là sự phát triển của trò chơi đóng vai theo chủ đề. Tuy nhiên phải đến tuổi mẫu giáo nhỡ thì trò chơi đó mới đạt đến dạng chính thức.
Suốt cả cuộc đời, từ bé đến già, ở độ tuổi nào con người cũng đều tham gia vào hoạt động vui chơi, nhưng chỉ ở tuổi mẫu giáo nhỡ thì hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện ở dạng đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi. Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ động Trò chơi là một loại hoạt động tự lực và tự do của trẻ em nói chung, nhưng vào độ tuổi mẫu giáo nhỡ tính tự lực tự do của trẻ mới thực sự được bộc lộ. Trẻ mẫu giáo nhỡ, tuy đã biết chơi nhưng tính tự lực còn yếu, khi chơi, đặc biệt là trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ còn bị phụ thuộc vào người lớn. Nếu không có sự hướng dẫn của người lớn thì trẻ chỉ biết chơi một mình hoặc chơi cạnh nhau.
Do đã có ít nhiều vốn sống, trẻ tiếp xúc hàng ngày với thế giới đồ vật, giao lưu rộng rãi với những người xung quanh, qua các cuộc đi chơi xem ti vi, tranh hay nghe chuyện kể. Hơn nữa trước mặt trẻ là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, tạo điều kiện cho trẻ tự lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào trò chơi những mảng hiện thực mà mình quan tâm. 6 Vào tuổi mẫu giáo nhỡ do thế giới nội tâm đã bắt đầu phong phú nên cá tính của trẻ được bộc lộ rõ rệt, mỗi đứa có mỗi tính, mỗi nết. Khi chơi là phải phối hợp hành động, nhưng không phải mọi đứa trẻ đều có thể chơi với nhau một cách êm thấm được, do đó trẻ cần phải chọn bạn chơi tâm đầu ý hợp với mình, chơi như vậy mới bền hơn, vui hơn.
Và khi tự nguyện tham gia vào các trò chơi thì trẻ tự mình lựa chọn trò chơi thích hợp, tư lực phân vai cho nhau, tự lực tìm kiếm đồ chơi và tự thỏa thuận chơi với nhau những nguyên tắc chơi. Lúc đó trẻ chơi một cách say sưa, chơi hết mình, nhưng khi đã chán thì cũng sẽ bỏ cuộc một cách nhẹ nhàng. “Xã hội trẻ em” được hình thành đối với trẻ Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức bách, vì đã có chơi là phải có vai nọ vai kia mới thú vị. Nếu phải chơi một mình thì điều đó hoàn toàn bất đắc dĩ đối với trẻ mẫu giáo nhỡ.
Các quan hệ trong trò chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã được mở rộng nhiều hơn so với mẫu giáo bé. Vào cuối tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau, nhưng chỉ sau đó một lúc ta có thể nhận thấy trẻ nhóm này sang chơi với trẻ nhóm khác. Cứ như thế, quan hệ của trẻ ngày càng được đa dạng hơn, chẳng khác nào một xã hội người lớn được thu nhỏ lại. Do những mối quan hệ giữa trẻ em được phong phú và mở rộng ra nên sự nhập vai của trẻ cũng trở nên thành thạo hơn và trẻ sống trong vai cũng gần như trong cuộc sống thực vậy.
Từ đó, những “xã hội trẻ em” thực sự được hình thành. Và trong cái “xã hội trẻ em” ấy mỗi trẻ đều có một vị trí nhất định. Vị trí đó được thể hiện ở chỗ bạn bè trong nhóm đối với trẻ đó như thế nào. Vị trí trong nhóm bạn cùng tuổi ảnh hưởng một cách sâu sắc đến sự phát triển nhân cách của trẻ.
Những trẻ không được các bạn gần gũi, giúp đỡ thường có tâm trạng buồn bã cô đơn. Trái lại những đứa trẻ được bạn bè đặc biệt quan tâm, thích chơi với chúng thì nhiều khi lại trở nên quá tự tin, từ đó mà trở nên tự cao tự đại. “Xã hội trẻ em” dần dần cũng hình thành những dư luận chung. Dư luận chung thường bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ em, cũng có thể do trẻ em nhận xét lẫn nhau.
Dư luận chung ảnh hưởng khá lớn đối với sự lĩnh hội những chuẩn mực hành vi đạo đức của trẻ trong nhóm và qua đó mà ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ. 7 Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ em, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp cũng như ở gia đình, khu tập thể để tạo ra một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tính tích cực đối với trẻ. Các giai đoạn phát triển tư duy trực quan hình tượng của trẻ em Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải thích được một số bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan - hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm nhiều, chức năng ký hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt.
Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng và đây cũng là thời điểm tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất. Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ em phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải tách biệt và sử dụng những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và hành động. Trong hoạt động hằng ngày của trẻ em không chỉ đơn giản sử dụng những kinh nghiêm đã có, mà còn không ngừng biến đổi những kinh nghiệm ấy để thu nhận những kết quả mới hơn. Các em có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật và hiện tượng như quan hệ giữa độ ẩm và độ mềm của đất khi nặn, giữa độ cao được nâng lên với chiều dài mỗi phần của chiếc cầu bập bênh,… Tư duy đang trên đà phát triển mạnh khiến đứa trẻ dự kiến được hành động và lập kế hoạch cho hành động của mình.
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình nhìn thấy được. Trẻ thường thực nghiệm chăm chú quan sát hiện tượng và suy nghĩ về những hiện tượng đó để rút ra kết luận. Tất nhiên những kết luận đó còn ngây ngô, ngộ nghĩnh và nhiều khi còn gây ngạc nhiên đối với người lớn. Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời sống.
Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng cao nên trẻ chỉ mới dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới. Vì vậy, trong khá nhiều trường hợp chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong. Do đó nhiều khi trẻ giải thích hiện tượng một cách ngộ nghĩnh. 8 Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh, đó là điều kiện thuận lợi nhất để giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng nên trong các tác phẩm văn học nghệ thuật do các văn nghệ sĩ xây dựng nên bằng những hình tượng văn học đẹp đẽ.