Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học "Nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan" do sinh viên Trần Thị Thùy Dương (MSSV: 2115011211, chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Khóa 2015 – 2019, Khoa Tiểu học - Mầm non & Nghệ thuật, Trường Đại học Quảng Nam) thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S - GVC. Hoàng Ngọc Thức vào tháng 5 năm 2019.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trí nhớ giữ vai trò nền tảng trong đời sống tâm lý con người, là điều kiện tiên quyết để hình thành các chức năng tâm lý bậc cao và tích lũy vốn kinh nghiệm sống. Tác giả trích dẫn luận điểm của nhà sinh lý học I. M. Sechenov (Cetrenov): "Không có hoạt động trí nhớ thì sẽ không có sự phát triển, con người mãi mãi trong tình trạng mới ra đời". Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học — đặc biệt là hoạt động kể chuyện — đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển ngôn ngữ, giáo dục thẩm mỹ và hình thành nhân cách toàn diện.

Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi), tư duy của trẻ mang đặc trưng nổi bật là tư duy trực quan – hình tượng. Trẻ chủ yếu ghi nhớ những sự vật, hiện tượng gây ấn tượng mạnh và mang tính hình tượng cụ thể. Việc sử dụng phương tiện trực quan là con đường tối ưu để kích thích sự chú ý và khắc sâu biểu tượng. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan trong hoạt động kể chuyện tại trường mầm non còn bộc lộ nhiều bất cập: hình thức sử dụng còn đơn điệu, đồ dùng trực quan cũ kỹ, giáo viên lúng túng trong việc phối hợp giữa lời kể và phương tiện minh họa, dẫn đến hiệu quả ghi nhớ của trẻ chưa cao và thiếu bền vững.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Đề xuất và kiểm nghiệm hệ thống biện pháp sư phạm nhằm nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi thông qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan.
    2. Khảo sát, phân tích thực trạng việc nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua hệ thống phương pháp trực quan tại Trường Mầm non 24 – 3, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
    3. Xây dựng các biện pháp sư phạm nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua hệ thống phương pháp trực quan và tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện cho trẻ mẫu giáo nhỡ; đội ngũ giáo viên và trẻ 4 – 5 tuổi tại trường mầm non.
  • Phạm vi không gian: Trường Mầm non 24 – 3, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
  • Phạm vi thời gian: Năm học 2018 – 2019 (khóa luận hoàn thành tháng 5/2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm dựa trên Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) và Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền chủ biên):

  • Ghi nhớ: Một quá trình cơ bản của trí nhớ, thể hiện ở sự tạo vết, giữ vững trên vỏ não những cảm giác, hình ảnh tri giác, ấn tượng, tư tưởng và hành động đã trải qua.
  • Phương pháp trực quan: Nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan để trẻ trực tiếp quan sát tài liệu mới, làm điểm tựa hình thành biểu tượng, khái niệm và phát triển thao tác tư duy.
  • Nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua hệ thống phương pháp trực quan: Cách thức sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh hoặc các biểu tượng trực quan nhằm củng cố hình tượng nhân vật và diễn biến truyện trong vỏ não của trẻ thông qua tri giác đa giác quan.

Cơ sở pháp lý được trích xuất từ Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 21 về vai trò giáo dục mầm non; Điều 22 về mục tiêu phát triển 5 lĩnh vực: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, thẩm mỹ).

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả tổng thuật quan điểm trực quan là "quy tắc vàng" của J. A. Comenius (Komenxki); thực nghiệm "Phương pháp kích thích chức năng kép" của L. S. Vygotsky, A. R. Luria, A. N. Leontiev (chứng minh trẻ dùng tranh làm điểm tựa ghi nhớ); các công trình trong nước của Hà Nguyễn Kim Giang về phương pháp tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học và kể chuyện sáng tạo.

Đặc điểm tâm lý và cơ chế ghi nhớ của trẻ 4 – 5 tuổi

  • Đặc điểm hoạt động và xã hội hóa: Hoạt động vui chơi phát triển đạt mức chính thức, trò chơi đóng vai theo chủ đề chiếm ưu thế; hình thành "xã hội trẻ em" với các mối quan hệ bạn bè tự nguyện, bắt đầu bộc lộ cá tính rõ rệt.
  • Đặc điểm nhận thức: Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh mẽ nhất; trẻ bắt đầu biết đề ra bài toán nhận thức, suy luận dựa trên biểu tượng đã có.
  • Đặc điểm ghi nhớ: Ghi nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối (trẻ nhớ những gì gây ấn tượng mạnh, giàu cảm xúc). Ghi nhớ có chủ định bắt đầu nảy sinh vào cuối lứa tuổi mẫu giáo nhỡ khi trẻ tiếp nhận nhiệm vụ nhớ từ người lớn hoặc gắn với hoạt động chơi hấp dẫn.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu tâm lý học, giáo dục học mầm non và phương pháp phát triển ngôn ngữ.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Khảo sát bằng phiếu anket đối với 33 giáo viên và 3 cán bộ quản lý (CBQL).
    • Quan sát, dự giờ tiết dạy kể chuyện trong lớp và hoạt động ngoài trời có lồng ghép truyện kể.
    • Trò chuyện, phỏng vấn giáo viên và trẻ.
    • Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ (tranh vẽ, câu hỏi tương tác).
    • Khảo sát khả năng ghi nhớ truyện kể trên mẫu 120 trẻ thuộc 4 lớp mẫu giáo nhỡ.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm so sánh giữa nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) trên 2 lớp mẫu giáo nhỡ.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức tính tần số, phần trăm để xử lý và phân tích số liệu định lượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về việc nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4-5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận giáo dục học và tâm lý học về trí nhớ và phương pháp trực quan:

  • Các biểu hiện khả năng ghi nhớ truyện kể của trẻ 4 – 5 tuổi:
    1. Khả năng nhớ cấu trúc tác phẩm: Nhớ tên tác phẩm, tên tác giả; nhớ số lượng và tên các nhân vật, phân biệt nhân vật chính – phụ; nhớ trật tự logic các tình tiết và cốt truyện.
    2. Khả năng nhớ ý nghĩa tác phẩm: Xác định chi tiết chính; hiểu và giải thích được từ ngữ mới/khó; thực hiện hành vi trần thuật (kể lại nội dung truyện bằng lời văn của chính mình).
    3. Khả năng tương tác với hình minh họa: Biết đặt câu hỏi về hình ảnh; đưa ra nhận xét, đánh giá về hành động của nhân vật trong tranh; sử dụng tranh ảnh làm phương tiện phục hồi nội dung truyện đã nghe.
  • Hoạt động kể chuyện và thể loại truyện mầm non: Phân tích đặc điểm tiếp nhận của trẻ với 4 thể loại chính: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn. Khóa luận phân định quy trình tổ chức 2 dạng hoạt động:
    • Hoạt động cô kể chuyện cho trẻ nghe (1 – 2 tiết): Rèn luyện kỹ năng nghe hiểu, cảm thụ ngôn ngữ, giọng kể diễn cảm kết hợp phương tiện trực quan.
    • Hoạt động cô kể chuyện và dạy trẻ kể lại chuyện (3 – 4 tiết): Tiến hành qua 4 bước: (1) Cho trẻ tri giác trọn vẹn tác phẩm; (2) Đàm thoại trích dẫn làm rõ nội dung và ngữ điệu giọng nhân vật; (3) Đàm thoại tái hiện tạo dàn ý câu chuyện; (4) Hướng dẫn trẻ độc lập kể lại câu chuyện.
  • Phân loại phương pháp trực quan trong giáo dục mầm non:
    • Phương pháp trình bày trực quan: Gồm hình thức minh họa (trưng bày tranh ảnh, bản mẫu, tranh vẽ) và hình thức trình bày (mô hình, sa bàn, thiết bị kỹ thuật, máy chiếu, truyền hình/video).
    • Phương pháp quan sát: Phân chia theo cách thức (trực tiếp/gián tiếp), thời gian (ngắn hạn/dài hạn), phạm vi (toàn diện/khía cạnh) và mức độ tổ chức (tự nhiên/có bố trí sắp xếp).

Chương 2: Thực trạng việc nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 - 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan tại trường Mầm non 24 – 3, Tam Kỳ, Quảng Nam

Tác giả tiến hành điều tra thực trạng tại Trường Mầm non 24 – 3 (thành lập từ năm 1979, công nhận chuẩn Quốc gia mức độ 2 năm học 2010 – 2011). Trường có tổng diện tích 3.345 m², diện tích phòng học 1.020 m², trang bị 14 máy vi tính, 1 máy chiếu, 15 tivi.

Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức nhân sự nhà trường Số lượng (người)
Ban Giám hiệu (1 Hiệu trưởng, 2 Phó Hiệu trưởng) 3
Giáo viên đứng lớp (Đại học, Cao đẳng) 33
Tổ văn phòng 4
Tổ cấp dưỡng (có bằng sơ cấp nấu ăn) 8
Bảo vệ 2
Tổng số 50
Bảng 2.2: Quy mô số lượng học sinh tại trường Tổng số lớp Tổng số trẻ
Khối Mẫu giáo lớn 4 121
Khối Mẫu giáo nhỡ 4 120
Khối Mẫu giáo bé 4 120
Khối Nhà trẻ 3 91
Tổng cộng 15 452

Thực trạng nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý

Kết quả khảo sát bằng phiếu anket cho thấy nhận thức của đội ngũ sư phạm về mức độ quan trọng của việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan:

Đối tượng khảo sát Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng Tổng số phiếu
Giáo viên đứng lớp (Bảng 2.3) 4 (12,12%) 20 (60,61%) 9 (27,27%) 33 (100%)
Cán bộ quản lý (Bảng 2.4) 0 (0%) 2 (66,67%) 1 (33,33%) 3 (100%)

Tỉ lệ giáo viên (27,27%) và CBQL (33,33%) đánh giá "không quan trọng" còn ở mức cao, phản ánh sự thiếu chú trọng đúng mức đến vai trò của phương pháp trực quan trong phát triển trí nhớ trẻ.

Thực trạng mức độ sử dụng các biện pháp trực quan của giáo viên

Số liệu thống kê về tần suất áp dụng các biện pháp trực quan trong hoạt động kể chuyện (Bảng 2.5):

STT Các biện pháp giáo viên đã sử dụng Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (%)
1 Kể chuyện kết hợp sử dụng tranh minh họa 39,39% 42,42% 18,19%
2 Kể chuyện kết hợp múa rối minh họa 15,15% 48,48% 36,37%
3 Kể chuyện kết hợp xem “tivi thần kì” 42,42% 36,36% 21,22%
4 Kể chuyện kết hợp quan sát sa bàn 12,12% 51,52% 36,36%
5 Làm đồ dùng, đồ chơi, con rối đẹp, phong phú 21,21% 45,45% 33,34%
6 Phối hợp với phụ huynh 24,24% 39,39% 36,37%

Đánh giá thực tế tiết dạy: Quan sát tiết học truyện "Gấu con bị đau răng" và hoạt động ngoài trời "Hướng dẫn đánh răng bằng bàn chải", tác giả chỉ ra hạn chế: Giáo viên chủ yếu dùng đồ dùng trực quan để diễn xuôi diễn biến mà chưa dùng để dẫn dắt câu hỏi tư duy; số lượng câu hỏi khai thác còn nghèo nàn; nhiều đồ dùng trực quan đã cũ khiến trẻ giảm tập trung.

Khảo sát khả năng ghi nhớ truyện kể của 120 trẻ mẫu giáo nhỡ

Nghiên cứu đánh giá khả năng nhớ truyện "Tích Chu" sau 3 ngày kể chuyện, dựa trên thang điểm 20 (4 tiêu chí, mỗi tiêu chí tối đa 5 điểm: Mức 1 = 5 điểm, Mức 2 = 3 điểm, Mức 3 = 1 điểm. Phân loại: Tốt: 18–20 điểm, Khá: 15–17 điểm, Trung bình: 10–14 điểm, Yếu: dưới 10 điểm):

Bảng 2.7: Tiêu chí đánh giá khả năng ghi nhớ Tốt (SL / %) Khá (SL / %) Trung bình (SL / %) Yếu (SL / %)
Tiêu chí 1: Khả năng nhớ tên tác giả, tác phẩm 15 (12,5%) 31 (25,83%) 54 (45,0%) 20 (16,67%)
Tiêu chí 2: Khả năng nhớ nhân vật trong truyện 10 (8,33%) 28 (23,33%) 58 (48,34%) 24 (20,0%)
Tiêu chí 3: Khả năng nhớ tình huống, sự kiện 0 (0%) 22 (18,33%) 62 (51,67%) 36 (30,0%)
Tiêu chí 4: Khả năng nhớ nội dung chính 8 (6,67%) 26 (21,67%) 56 (46,66%) 30 (25,0%)

Nguyên nhân thực trạng: Trẻ hiếu động, sĩ số lớp đông (30 trẻ/lớp); kinh phí tự tạo đồ dùng hạn hẹp; giáo viên chưa đầu tư thời gian làm mới học cụ; thiếu sự phối hợp thường xuyên giữa nhà trường và gia đình.


Chương 3: Biện pháp nâng cao khả năng ghi nhớ truyện kể cho trẻ 4 – 5 tuổi qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan và thực nghiệm sư phạm

Cơ sở đề xuất biện pháp

Hệ thống biện pháp được xây dựng dựa trên 3 căn cứ khoa học:

  1. Mục tiêu giáo dục mầm non theo Luật Giáo dục 2005 (phát triển cân đối thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ).
  2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (nhu cầu giao tiếp mở rộng, tính hiếu kỳ cao, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh).
  3. Điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của Trường Mầm non 24 – 3 (tận dụng hệ thống máy chiếu, tivi, phòng học rộng và nguyên vật liệu địa phương).

Hệ thống 6 biện pháp sư phạm đề xuất

  1. Kể chuyện kết hợp với việc sử dụng tranh minh họa: Lựa chọn tranh vẽ thể hiện rõ hành động nhân vật, màu sắc hài hòa, sắp xếp theo đúng trình tự logic cốt truyện. Ví dụ trong truyện "Thỏ con nhanh trí" (tác giả minh họa qua quy trình 5 bức tranh liên hoàn: Dê mẹ dặn con $\rightarrow$ Sói gõ cửa $\rightarrow$ Sói thò chân nhúng bột $\rightarrow$ Dê con quan sát tai Sói $\rightarrow$ Dê mẹ nghe kể lại).
  2. Kể chuyện kết hợp với múa rối minh họa: Sử dụng rối tay, rối que để tạo sự chuyển động sống động, kích thích cảm xúc thẩm mỹ và sự đồng cảm nhân vật.
  3. Kể chuyện kết hợp xem “tivi thần kì” minh họa nội dung truyện: Thiết kế mô hình tivi thủ công có trục quay hoặc trình chiếu video phân cảnh, giúp trẻ tập trung thị giác vào điểm nút của tác phẩm.
  4. Cô kể chuyện kết hợp cho trẻ quan sát “Sơ đồ cây bàn tay” minh họa nội dung truyện: Sử dụng mô hình trực quan bàn tay 5 ngón tương ứng với các yếu tố then chốt (nhân vật chính, bối cảnh, sự kiện mở đầu, diễn biến cao trào, kết thúc), giúp trẻ hệ thống hóa cấu trúc cốt truyện.
  5. Làm đồ dùng, đồ chơi, con rối đẹp và phong phú: Tận dụng phế liệu sạch, vải vụn, xốp màu để tạo đồ dùng đa dạng, đảm bảo an toàn và thẩm mỹ cao.
  6. Phối hợp với phụ huynh qua việc vận dụng hệ thống phương pháp trực quan: Hướng dẫn phụ huynh sử dụng tranh ảnh, video tại gia đình để trò chuyện, củng cố nội dung truyện trẻ đã học trên lớp.

Thiết kế thực nghiệm sư phạm

  • Đối tượng và thời gian thực nghiệm: Chọn 2 lớp mẫu giáo nhỡ tương đồng về trình độ tại Trường Mầm non 24 – 3 (1 lớp TN áp dụng hệ thống biện pháp mới và 1 lớp ĐC áp dụng phương pháp thông thường).
  • Quy trình thực nghiệm:
    • Giai đoạn 1: Đo nghiệm đầu vào trước thực nghiệm (Bảng 3.1 & Biểu đồ 1) để xác định tính tương đồng giữa 2 nhóm.
    • Giai đoạn 2: Tiến hành dạy thực nghiệm với hệ thống giáo án đã thiết kế các phương tiện trực quan (tranh liên hoàn, múa rối, sơ đồ bàn tay, tivi thần kỳ).
    • Giai đoạn 3: Kiểm tra sau thực nghiệm (Bảng 3.2, Bảng 3.3 & Biểu đồ 2) theo 4 tiêu chí ghi nhớ trên thang điểm 20.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của đề tài

  • Khóa luận đã định lượng hóa nhận thức của cán bộ, giáo viên và năng lực ghi nhớ truyện của 120 trẻ mẫu giáo nhỡ tại Trường Mầm non 24 – 3: trước can thiệp, tỉ lệ trẻ đạt loại tốt ở tiêu chí nhớ logic sự kiện là 0%, nhớ tên tác giả - tác phẩm chỉ đạt 12,5%, nhớ nhân vật đạt 8,33%.
  • Đã thiết kế quy trình sư phạm chi tiết cho 6 biện pháp trực quan hóa câu chuyện, minh chứng sinh động qua các bài dạy cụ thể ("Thỏ con nhanh trí", "Ba cô gái", "Chàng Rùa").
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định nhóm trẻ được can thiệp bằng hệ thống phương pháp trực quan đa dạng đạt mức độ tăng trưởng vượt trội về khả năng ghi nhớ có chủ định, tái hiện cốt truyện mạch lạc và hiểu sâu sắc ý nghĩa giáo dục của tác phẩm so với nhóm đối chứng.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Hệ thống hóa khung lý luận về phát triển trí nhớ cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tiếp nhận văn học bằng phương pháp trực quan.
  • Xây dựng bảng tiêu chí và thang đo 20 điểm cụ thể để đánh giá năng lực ghi nhớ tác phẩm tự sự của trẻ 4 – 5 tuổi.
  • Cung cấp tư liệu thực nghiệm và tài liệu hướng dẫn giảng dạy trực quan có giá trị ứng dụng trực tiếp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và giáo viên đứng lớp tại các cơ sở giáo dục mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát và thực nghiệm mới chỉ giới hạn tại một cơ sở (Trường Mầm non 24 – 3, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) với mẫu 120 trẻ mẫu giáo nhỡ. Điều kiện cơ sở vật chất và năng lực của giáo viên giữa các địa bàn vùng sâu, vùng xa chưa được phản ánh bao quát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu vận dụng hệ thống phương pháp trực quan cho các độ tuổi khác (mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi và mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi).
    • Thử nghiệm các biện pháp trên các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau (vùng nông thôn, miền núi khó khăn).
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ trực quan số hóa và phần mềm tương tác trong hoạt động kể chuyện mầm non.

Giá trị tham khảo

Tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  1. Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo cấu trúc khóa luận thực nghiệm sư phạm, phương pháp thiết kế phiếu điều tra anket, thang đo đánh giá sự phát triển tâm lý trẻ và quy trình xử lý số liệu thống kê.
  2. Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy khối Mẫu giáo nhỡ: Tham khảo các ý tưởng làm đồ dùng dạy học sáng tạo như "Sơ đồ cây bàn tay", "Tivi thần kì" và quy trình 4 bước dạy trẻ kể lại chuyện.
  3. Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá khả năng ghi nhớ truyện kể để làm công cụ kiểm tra, đánh giá chất lượng lĩnh vực phát triển ngôn ngữ của trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỉ lệ nhận thức của giáo viên Trường Mầm non 24 – 3 về tầm quan trọng của việc dùng phương pháp trực quan để rèn trí nhớ cho trẻ là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát 33 giáo viên (Bảng 2.3), có 12,12% (4 GV) đánh giá rất quan trọng, 60,61% (20 GV) đánh giá quan trọng và 27,27% (9 GV) đánh giá không quan trọng.

2. Khả năng ghi nhớ truyện kể của 120 trẻ trước thực nghiệm bộc lộ điểm yếu lớn nhất ở tiêu chí nào?
Điểm yếu lớn nhất thể hiện ở Tiêu chí 3 (Khả năng nhớ tình huống, sự kiện trong truyện): 0% trẻ đạt loại tốt, 18,33% đạt loại khá, 51,67% trung bình và có tới 30,0% trẻ xếp loại yếu (Bảng 2.7). Trẻ chỉ nhớ chi tiết đầu câu chuyện và không tự nhớ được các nút thắt tiếp theo nếu không có cô gợi ý.

3. Tác giả đã đề xuất những biện pháp cụ thể nào trong Chương 3?
Tác giả đề xuất 6 biện pháp: (1) Kể chuyện kết hợp tranh minh họa theo chuỗi logic; (2) Kể chuyện kết hợp múa rối; (3) Kể chuyện kết hợp xem “tivi thần kì”; (4) Kể chuyện kết hợp “Sơ đồ cây bàn tay”; (5) Tự làm đồ dùng, con rối đẹp và phong phú; (6) Phối hợp với phụ huynh học sinh vận dụng trực quan tại nhà.

4. Biện pháp trực quan nào được giáo viên tại trường khảo sát sử dụng thường xuyên nhất?
Biện pháp kể chuyện kết hợp xem "tivi thần kì" đạt tỉ lệ sử dụng thường xuyên cao nhất với 42,42%, tiếp theo là kể chuyện kết hợp tranh minh họa đạt 39,39% (Bảng 2.5). Các biện pháp đòi hỏi công phu như quan sát sa bàn (12,12%) hay múa rối (15,15%) có tỉ lệ sử dụng thường xuyên rất thấp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thùy Dương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận tâm lý - giáo dục học và khảo sát thực trạng năng lực ghi nhớ của trẻ 4 – 5 tuổi tại Trường Mầm non 24 – 3, thành phố Tam Kỳ. Công trình đã đề xuất thành công 6 biện pháp sư phạm trực quan hóa đa dạng, bám sát đặc điểm tư duy trực quan – hình tượng của lứa tuổi mẫu giáo nhỡ. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc phối hợp linh hoạt tranh minh họa, con rối, mô hình tivi và sơ đồ bàn tay giúp nâng cao rõ rệt năng lực ghi nhớ có chủ định, kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ và khả năng cảm thụ văn học của trẻ mầm non.