Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục kỹ năng sinh tồn cho học sinh ở trường tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sinh tồn cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sinh tồn cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SINH TỒN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Kỹ năng sinh tồn và vấn đề giáo dục kỹ năng sinh tồn cho con người đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa nhờ học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên và để thoát hiểm. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.Galperin trong các công trình nghiên cứu của mình chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục V.
Kỹ năng sinh tồn có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước[36]. …ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. … Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng thoát hiểm ở những tình huống nguy hiểm. Giáo dục KNST ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích 6 hợp trong chương trình giáo dục chính quy.
Năm 2001 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường vv. Giáo dục KNST ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNST được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp. Giáo dục KNST ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sinh tồn trong đời sống gia đình. Ở Bangladesh: Giáo dục KNST được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai.
Trong nước Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu về KNST và giáo dục KNST cho tuổi vị thành niên theo tiếp cận KNS, tác giả làm rõ thực trạng kỹ năng sống và thực trạng giáo dục KNS cho học sinh hiện nay trong đó có kỹ năng tự bảo vệ và làm chủ bản thân, xác định những bất cập, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hụt kĩ năng sống và tính tự lập, tự chủ của lứa tuổi này và đề xuất các biện pháp khắc phục tình trạng hạn chế về kĩ năng sống của vị thành niên [15]. Bộ Giáo dục - Đào tạo triển khai Dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kĩ năng sống cho trẻ em và trẻ chưa thành niên trong và ngoài trường học” nâng cao nhận thức cho giáo viên và nhà trường phổ thông về KNS và giáo dục KNS cho học sinh trong đó có kỹ năng tự bảo vệ, sống an toàn, bồi dưỡng năng lực giáo dục KNS cho giáo viên phổ thông, thu được những kết quả nhất định về thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường. Nguyễn Thanh Bình (2009) nghiên cứu về kĩ năng sinh tồn và giáo dục kĩ năng sinh tồn cho học sinh THCS theo tiếp cận KNS đề tài tiến hành khảo sát trên 8 tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam trong cả nước làm rõ những hạn chế về kỹ năng tự bảo vệ bản thân; kỹ năng phòng tránh đuối nước, 7 mưa giông, lũ quét vv…của học sinh khu vực miền núi. Tác giả đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS [7.
Nguyễn Thị Hường (2009), nghiên cứu kĩ năng sống dưới góc độ khai thác trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học trong đó có đề cập đến giáo dục KNST cho học sinh tiểu học [10]. Nguyễn Thị Tính(2010), nghiên cứu giáo dục kĩ năng sinh tồn cho học sinh tiểu học theo tiếp cận giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn đạo đức. Tác giả đã làm rõ những hạn chế về kỹ năng tự chủ, tự lập của học sinh khu vực miền núi phía Bắc, đề xuất được hệ thống các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh vùng miền và đáp ứng mục tiêu giáo dục [21]. Từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nhằm mang lại cho học sinh cả nước một "môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội".
Nhìn chung giáo dục KNST cho con người nói chung, cho học sinh nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác theo tiếp cận giáo dục KNS là chủ yếu, mặc dù nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, nhưng với vấn đề giáo dục KNST cho học sinh đã được quan tâm và đề cập, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập về giáo dục KNST và quản lý giáo dục KNST cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh vì vậy tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Kỹ năng sống, kỹ năng sinh tồn Kĩ năng sống được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo WHO (1993): Kĩ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có 8 hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995): Kĩ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống. Kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng.
Tác giả luận văn chọn khái niệm sau làm khái niệm cơ bản của đề tài: Kĩ năng sống là năng lực làm cho hành vi và sự thay đổi của cá nhân phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày để sống thành công, hiệu quả. Từ khái niệm kỹ năng sống, tác giả có thể hiểu kỹ năng sinh tồn là những năng lực mà một người dùng nhằm duy trì sự sống trong bất kỳ môi trường tự nhiên hay môi trường xã hội, để vượt qua khó khăn hay nguy hiểm trước mắt. Kỹ năng sinh tồn là những nhân tố hỗ trợ và quyết định sự an toàn của tính mạng cho con người nói chung và trẻ em nói riêng trong những tình huống khó khăn, nguy hiểm xuất hiện đột xuất. Đây chính là những kỹ năng cần được giáo dục cho học sinh tiểu học.
Giáo dục kỹ năng sinh tồn Giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên thông qua tổ chức các loại hình hoạt động và giao lưu nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử, hình thành phát triển nhân cách theo yêu 9 cầu xã hội, biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm của cá nhân người học.[19] Giáo dục KNS cho học sinh là quá trình dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên, thông qua các hoạt động giáo dục và sinh hoạt hàng ngày, giúp các em có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức đối với bản thân trong các mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường và xã hội để có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày để sống thành công, hiệu quả. Giáo dục KNST cho học sinh là quá trình dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên, thông qua các hoạt động giáo dục và sinh hoạt hàng ngày, giúp các em có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức đối với bản thân trong các mối quan hệ của học sinh đối với tự nhiên và xã hội để duy trì sự sống vượt qua khó khăn hay nguy hiểm trước mắt. Quản lý giáo dục kỹ năng sinh tồn Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng, khách thể quản lý trong một tổ chức bằng việc thông qua công cụ và phương pháp quản lý, nhằm sử dụng có hiệu tiềm năng, cơ hội của tổ chức, giúp cho tổ chức đó vận hành hợp quy luật và đạt được mục tiêu đề ra.