Chương 1: Cơ sở lí luận về GD BĐG cho HS lớp 1,2 tại trường tiểu học. - Chương 2: Thực trạng GD BĐG cho HS lớp 1,2 tại các trường Tiểu học Quận 5, TPHCM. - Chương 3: Biện pháp GD BĐG cho HS lớp 1,2 tại các trường Tiểu học Quận 5, TPHCM. CƠ SỞ LÍ LUẬN GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO HỌC SINH LỚP 1, 2 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Vấn đề GD BĐG được các nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm từ thế kỷ XIX và cho ra những công trình có giá trị từ cuối thế kỷ XX. Theo quan điểm của Sapiro. V (1990) thì “Hầu hết các chính sách đối với phụ nữ đều được thiết kế một cách rõ ràng nhằm mang lại lợi ích cho họ trên cương vị là người vợ, người mẹ và đặc biệt hơn là mang lại lợi ích cho những người phụ thuộc vào họ trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc gia đình, chồng, con và người thân lớn tuổi”.
Khi phụ nữ và những người phụ thuộc thiếu sự hỗ trợ của người đàn ông trụ cột trong gia đình, họ sẽ nhận được viện trợ từ nhà nước. Trong công bố của Sapiro. Trong cuốn sách Education and Gender Equality (GD và BĐG) (Wrigley, 1992), tác giả đã tổng hợp tài liệu các nghiên cứu và nêu ra những bất bình trong các loại hình phúc lợi xã hội: nam giới luôn nhận được nhiều lợi ích hơn phụ nữ, phụ nữ thường dựa vào quyền lợi từ gia đình hơn là dựa vào quyền được lao động. Từ đó, tác giả đề cập đến vai trò của nhà trường lên việc xây dựng các giá trị xã hội cho người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với các phúc lợi xã hội, tiến tới BĐG trong xã hội.
Tác phẩm Practising Gender Equality in Education (Thực hành BĐG trong GD) (Aikman & Unterhalter, 2007) đã ghi nhận lại sự đóng góp của tất cả những người đã tham gia vào các sự kiện và các cuộc thảo luận diễn ra ở các nước Vương quốc Anh, Châu Phi và Châu Á từ tháng 6 năm 2003 đến tháng 12 năm 2005 nhằm giúp các tổ chức Phi Chính phủ (NGO), các học viên, GV, quan chức Chính phủ và các nhà nghiên cứu phát triển sự hiểu biết của họ về các vấn đề chính trong việc đạt được BĐG trong GD. Cuốn sách được biên soạn để đảm bảo rằng BĐG là một phần 8 quan trọng góp phần tạo nên chất lượng GD. Bên cạnh đó, cuốn sách cung cấp các ví dụ về những sáng kiến trong nhiều bối cảnh. Tác giả Elaine Unterhalter cũng đã đưa ra 03 cách tiếp cận khác nhau về BĐG trong GD: bình đẳng về phân phối lao động, bình đẳng về điều kiện, bình đẳng về năng lực được ghi rõ trong cuốn sách Amartya Sen's Capability Approach and Social Justice in Education (Phương pháp tiếp cận năng lực của Amartya Sen và công bằng xã hội trong GD), (Walker & Unterhalter, 2007).
Đây được coi là một nghiên cứu có ý nghĩa về BĐG trong GD khi số trẻ em trai và trẻ em gái đăng ký đi học, tham gia lớp học và tiến tới hoàn thành các kỳ thi bằng nhau; luôn tôn trọng sự khác biệt về giới tính của nhau. Tại Đài Loan, thúc đẩy GD BĐG là một trong những nỗ lực cải cách GD ở Đài Loan từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, kết quả không như mong đợi, tình trạng bất BĐG trong trường học ngày càng gia tăng. Vì vậy, Chính phủ Đài Loan đã công bố thông qua Đạo luật giáo dục bình đẳng giới (GEEA) vào tháng 6 năm 2004 nhằm giải quyết tình trạng này.
Wei-ni Wang (2004) đã đưa ra cái nhìn tổng quan cho việc thực hiện Đạo luật để giảm bất BĐG thông qua GD, việc này không chỉ dựa vào việc tăng khả năng tiếp cận GD của phụ nữ mà còn xóa bỏ định kiến giới khỏi tài liệu hướng dẫn và môi trường học tập. Khi phân biệt đối xử và định kiến về giới được giảm bớt thông qua GD BĐG, một hệ tư tưởng mới về BĐG sẽ buộc chính quyền phải sửa đổi các luật và quy định không phù hợp, phân biệt đối xử và bất bình đẳng đối với phụ nữ và dân tộc thiểu số (Wang, 2004). Tại New Zealand, tổ chức hội đồng phụ nữ quốc gia (NCWNZ) tuyên bố: “Sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ đã bị đình trệ và đang tụt lùi”. Nhiều học giả, nhà nữ quyền và các tổ chức cộng đồng cũng bày tỏ mối quan ngại tương tự về hiện trạng giới ở New Zealand.
Với vấn đề như vậy, tác giả (Farvid, 2017) đã đưa ra 04 cách nhằm ngăn chặn các biểu hiện của phân biệt giới tính và bất BĐG trước khi chúng xảy ra: Xóa bỏ hệ thống hệ nhị phân giới dẫn đến các hình thức phân biệt giới tính; Dạy cho trẻ em trai và trẻ em gái về lịch sử giới và bất BĐG để các em hiểu rõ về giới, vai trò giới, kỳ vọng của giới chính là sản phẩm văn hóa - xã hội và có thể thay 9 đổi; Đưa tài liệu liên quan đến đạo đức xã hội, tình dục vào chương trình giảng dạy sức khỏe; Gắn đạo đức cá nhân với đạo đức toàn cầu. Như vậy vấn đề GD BĐG đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới làm rõ vai trò, mục tiêu, nội dung và hình thức GD. Tuy nhiên, các nghiên cứu về GD BĐG cho HS ở trường Tiểu học cũng như các nghiên cứu về phương pháp GD BĐG vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu ở Việt Nam 1.
Một số nghiên cứu, chương trình giáo dục bình đẳng giới đã triển khai ở Việt Nam Một nghiên cứu được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu phát triển Xã hội từ năm 2012 đến 2015 với sự hỗ trợ của quỹ Ford, Oxfam Novib và Chính phủ Úc về giới và BĐG ở Việt Nam. Nghiên cứu này thực hiện trên 4.212 phụ nữ và 4.212 nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 65 từ 9 tỉnh và thành phố (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Bình, Phú Thọ, Lâm Đồng, Bình Thuận, Vĩnh Long và Tây Ninh) và một nghiên cứu định tính được thực hiện tại Hà Nội, Hưng Yên, Thành phố Hồ Chí Minh và Long An cho thấy: Nhận thức một cách cứng nhắc về giới, về giá trị và vai trò của phụ nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ của người dân. Nhận thức về vai trò phụ nữ trong chăm sóc gia đình vẫn được duy trì vững chắc trong tâm trí và hành vi của cả nam giới và phụ nữ Việt Nam trong tất cả các tầng lớp xã hội. Đặc biệt, phụ nữ nội tâm hóa sâu sắc giá trị này và trong nhiều trường hợp, sẵn sàng thỏa hiệp với hạnh phúc và sự tiến bộ của cá nhân họ (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, 2015).
Trong khuôn khổ dự án “Sáng kiến về bình đẳng giới và giáo dục trẻ em gái ở Việt Nam: Trao quyền cho trẻ em gái và phụ nữ vì một xã hội bình đẳng hơn” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) giai đoạn 2015 - 2017, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lí GD đã tổ chức khóa tập huấn trực tuyến thí điểm cho cán bộ quản lí, GV các trường Trung học Cơ sở, trường Trung học Phổ thông của 03 Sở Giáo dục và Đào tạo là Hà Nội, Thừa Thiên Huế và TP HCM về “Nhận thức và đáp ứng giới trong hoạt động giảng dạy”. Nội dung của khóa học bao gồm 03 Module với với 11 bài học nhằm giúp cho GV, cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quan về giới, sự cần thiết lồng ghép giới vào các môn 10 học và những hiệu ứng tích cực mà lồng ghép giới vào môn học mang lại khi thực hiện lồng ghép giới và BĐG trong dạy học. Theo Báo cáo về khoảng cách giới toàn cầu năm 2018, thứ hạng của Việt Nam đã giảm trong thập kỉ qua từ thứ hạng 42 năm 2007 xuống còn 77 năm 2018, nhiều khu vực trong cả nước đã có sự thu hẹp khoảng cách giữa nam và nữ (Diễn đàn kinh tế thế giới, 2018). Một báo cáo khác của Chính phủ về việc thực hiện Chương trình quốc gia về BĐG năm 2017 đã ghi nhận rằng, quá trình thực hiện BĐG ở Việt Nam vẫn còn chậm, đôi khi trì trệ hoặc thậm chí giảm ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo chỉ thị 34 về việc tăng cường thực hiện đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình GD trong hệ thống GD quốc dân ngày 21 tháng 12 năm 2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức rà soát chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy dùng ở các cấp học thuộc trách nhiệm quản lý của bộ để tiếp tục đề xuất triển khai các nội dung phù hợp với nhiệm vụ đề án; tổ chức xây dựng và phê duyệt chương trình, tài liệu giảng dạy dùng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; chỉ đạo, hướng dẫn lồng ghép, tích hợp nội dung quyền con người vào chương trình hiện hành và trong kế hoạch đổi mới chương trình, tài liệu, học liệu, sách giáo khoa phù hợp với từng cấp học, chỉ đạo các cơ sở giáo dục thực hiện nghiêm túc các nội dung GD quyền con người được quy định trong chương trình GD, ĐT. Bình đẳng giới trong trường học Tại trường học, nhằm triển khai thực hiện lồng ghép giới một cách có hệ thống, phát triển và làm phù hợp với thực tế của các trường học ở Việt Nam. Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành cuốn tài liệu “Hướng dẫn thực hành quy trình lồng ghép giới bền vững” năm 2014 dành cho giảng viên (Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2014). Cuốn tài liệu đã đưa ra được quy trình lồng ghép giới bền vững, hệ thống các phương pháp và công cụ phân tích giới giúp cho học viên nắm rõ cách tổ chức lồng ghép giới phục vụ cho công việc giảng dạy.
Năm 2015, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lí cơ sở giáo dục, (2014) đã đưa ra sáng kiến cho HS trung học nhằm giúp cho HS nam và nữ phát huy được tối đa năng 11 lực nghề nghiệp của bản thân, đảm bảo được quyền bình đẳng của họ trong hoạt động hướng nghiệp.