CHƯƠNG 1 CUA VIEC QUAN Li HOAT DONG DUC G TRUONG TRUNG HOC CO SO 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE 1. Các nghiên cứu trên thế giới Xuất phát từ quan điểm nền GD thời đại mới phải dựa trên 4 yêu c; : học để , học đề làm, học đẻ xây dựng nhân cách và học đề chung sống với đồng loại. Ủy Ban quốc tế về GD thế ki XXI đã vạch ra nguyên tắ, xây dựng nền GD trước mắt và cho những năm sắp tới đó là học suốt đời hay nói khác đi là GD suốt đời.
GD là một phạm trù vĩnh cửu: GD sinh ra cùng với loài người, tồn tại và phát triển cùng với loài người. Chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thủy của GD là XHH. “Trong GD tắt cả mọi cái đều mang tính xã hội, bất kỳ xã hội nào cũng đều là XHHGD. Ở Indonexia: Ngoài hệ thống GD nhà trường, họ còn coi trọng các loại hình GD.
ngoài nhà trường: ở gia đình; xã hội: các doanh nghiệp; các trường Đại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng và mọi tẳng lớp xã hội. Thái Lan: Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy đề thích ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình công nghiệp hóa đắt nước. Đối với Trung quốc: Chính phủ Trung Quốc đặt ra chiến lược: Làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và GD. Với phương châm GD phải thực hiện ba điều hướng tới đó là: GD phải hướng tới hiện đại hóa, hướng tới thể giới, hướng.
tới tương lai. Chính sách phát triển GD của Trung Quốc hiện nay có thê khái quát: Đầu tư chỉ phí cao cho GD phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD phải được xem như đầu tư phát triển cho sản xuất. Phát triển GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực đủ chu; „ phát triển GD theo hoàn cảnh địa phương. Đảm bảo sự tham gia rộng rãi của công đồng vào việc QL giáo dục và đầu tư cho GD.
Nhật Bản: Đã đạt được những thành tựu "không lồ" về mặt kinh tế - khoa học. công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lực của toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT. Từ năm 1971, Nhật Bản đã thành lập Bộ GD&DT và thành lập hệ thống GD mới, hệ thống GD đã đề ra chính sách: Đối với các trường tiêu học bắt buộc thì sự "bình đăng" là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng là cao nl _ Quan điểm này không những xóa bỏ sự bắt bình đăng trong xã hội về GD, mà còn tạo ra sự phát triển tiềm năng của con người.
Điểm qua tình hình GD một số nước trong khu vực. để thấy rằng, các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới đã có sự nhận thức tương đồng về GD, coi GD là con đường để phát triển kinh tế, văn hóa, xã h: học công nghệ. đang thực hiện một cuộc cách mạng chuẩn hóa GD (Standards revolution). Dé lam được điều này, một trong những giải pháp quan trọng là Nhà nước thực hiện chủ trương đa dạng hóa.
Hình thức trường học công - tư phát triển mạnh ở Mỹ. Đây là loại trường do nhóm giáo viên, phụ huynh, nhóm công đồng, doanh nghiệp, trường đại học, viện bảo tầng. thành lập và loại hình này ngày nay phát triển rất mạnh ở Mỹ với hơn 3. Cơ chế hoạt động của các trường.
học loại này tự do hơn, linh hoạt hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra còn nhiều nước phát triển như Hàn Quốc, Úc, Singapore trong chương trình cải cách GD và trong chiến lược phát triển GD đều chú trọng tạo môi trường GD năng động, phong phú, coi GD gắn bó với phát triển và khẳng định GD là động lực của sự phát triển kinh tế ~ xã hội. [17] Nhìn lại kinh nghiệm XHHGD ở hẳu hết các quốc gia điển hình trên thể giới là đều thực hiện chính sách huy động mọi nguồn lực cho GD, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đa dạng hóa các lực lượng tham gia GD. phát triển nguồn nhân lực n tiến cho đất nước và đây đang là xu thế chung được áp dụng rộng rãi trong GD.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, thế kỷ XI (1070) thời Nhà Lý - vua Lý Thánh Tông rất quan tâm đến GD&ĐT, ông cho xây dựng Quốc Tử Giám đẻ đào tạo hiển tài. Thế kỷ XVII ~ vua Quang Trung ~ Nguyễn Huệ cũng đã nói: “Dựng nước, trước tiên phải lo việc học”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “GD phải cung cấp cho cán bộ kinh tế, kinh tế tiến bộ thì GD mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì GD.
cũng không phát triển được. GD không phát triển thì không có đủ cán bộ kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau" [28]. 'Văn kiện Đại hội Đại biêu toàn quốc lần thứ X của Dang khẳng định: “Đẩy mạnh XHHGD và đào tạo.
Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đăng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đổi mới cơ chế QL, nâng cao chất lượng các trường công lập; bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm GD cộng đồng” [9], “Trên cơ sở quan điểm của Đảng. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90 ngày. 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động GD nhằm cụ thê hóa chủ trương.
nội dung, biện pháp XHH hoạt động GD&ĐT. Ngày 18 tháng 04 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đây mạnh XHH các hoạt động GD. Ngày 24/6/2005, Bộ GD& ĐT đã ban hành quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển XHHGD giai đoạn 2005 ~ 2010”. Bên cạnh chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, các nhà QL GD ở nước ta đã nêu lên một số luận điểm quan trọng.TS Pham Minh Hạc, khẳng định: “XHH công tác GD, một con đường phát triển GD nước ta.TS Đặng Quốc Bảo quan niệm: “XHHGD phản ánh bản chất của luận đề: GD cho tắt cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp GD” (Education for all, all for education EFA — AFE) (3).
Vay huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự QL của Nhà nước Không có xã hội nào có thể tổn tại nếu không có sự GD và mọi sự GD đều hướng tới sự tiến bộ của xã hội. Như vậy là luôn luôn tồn tại nền GD xã hội” [3] “Tuy nhiên vẫn còn tình trạng các cấp, các ngành và trong nhân dân vẫn còn nhận thức chưa đúng về XHHGD, vẫn còn sự phân biệt giữa trường công lập và ngoài công lập. Các tô chức kinh tế, xã hội tham gia vào công tác XHHGD còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng, trí tuệ trong xã hội và vẫn còn tư tưởng trông chờ. vào Nhà nước.
XHHGD là con đường nhanh nhất thúc đẩy GD nước ta phát triển. XHHGD là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng ta nhằm định hướng chiến lược phat triển GD&DT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết TW 2 khóa VIII của Đảng có nêu: "Phát rn các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở c; trường tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phô thông trung học (cấp IID, trung học chuyên nghiệp, dạy nghẻ, đại học. Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạotừ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức GD” [9].
“Tại điều 12, Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định: *XHH sự nghiệp GD để thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức GD: khuyến khích, huy. động và tạo điều kiện để tô chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD" [25]. Lâu nay, vấn đề XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo địa. phương quan tâm tổ chức triển khai thực hiện, ngày 18 tháng4 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP vẻ đây mạnh XHH các hoạt động GD, y tế, văn hóa và thể dục thể thao nhằm mục đích nâng cao chất lượng GD cho nước nhà.
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tỉ tục khẳng định vai trò quan trọng của GD&ĐT đồng thời xác định định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển GD&ĐT. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW. ngày 4-11-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện 'GD&ĐT. đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tẾ” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển GD&ĐT trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu 10 quả đầu tư phát triển GD&ĐT; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển GD&ĐT, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT [29]. Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào. GD, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở GD được hưởng chính sách ưu đãi xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt đông trong lĩnh vực GD, day nghé, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường: Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi. bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg. ngày 20-3-2014, về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020 [30], Với những định hướng khuyến khích XHHGD nêu trên, GD mâm non, GD phổ thông. GD nghề nghiệp và GD đại học ngoài công lập trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập GD, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN.