Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM 1. NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Yếu tố giới Một trong những yếu tố xã hội quan trọng mang đặc trưng cá nhân luôn được tìm hiểu trong các nghiên cứu về tiếp cận giáo dục nói chung và tiếp cận giáo dục trung học phổ thông nói riêng của trẻ em trên thế giới đó là giới. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có hai xu hướng trái ngược nhau trong mối liên hệ giữa việc trẻ em trai và trẻ em gái đi học ở bậc trung học phổ thông.
Nghiên cứu của một số nước nhận thấy trẻ em gái được đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai. Ngược lại, ở một số nước khác thì tỷ lệ nhập học của trẻ em trai lại thấp hơn. Theo các nghiên cứu, trẻ em gái đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai là do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống “trọng nam khinh nữ”. Một nghiên cứu nhận xét, trong bối cảnh Nam Á và Pakistan, sự hoàn thành giáo dục sau trung học cơ sở của phụ nữ thấp có thể được giải thích bởi thực tế phổ biến là họ thường bỏ học để tiến hành hôn nhân và sinh con.
Cần nhấn mạnh rằng ở Nam Á, quyết định đi học hoặc bỏ học không phải là sự lựa chọn mà trẻ em đưa ra mà thay vào đó cha mẹ đóng vai trò chính trong quyết định này. Áp lực văn hóa và xã hội mạnh mẽ cũng là nguyên nhân khiến cha mẹ không cho con gái đến tuổi đi học và phải kết hôn sớm. Đây là một yếu tố quan trọng giải thích tại sao trình độ học của phụ nữ thường là thấp [94, 144, 150]. Đối với các quốc gia có tỷ lệ trẻ em gái đi học trung học phổ thông cao hơn, các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chuyển tiếp lên trường trung học phổ thông có thể phản ánh kết quả của hiệu ứng sàng lọc trong đó chỉ những trẻ em gái ngoan cường nhất đi học đến cuối cùng của bậc trung học cơ sở, được gia đình (giàu có) ủng hộ tạo điều kiện nên mang lại tỷ lệ chuyển tiếp cao hơn so với trẻ em trai.
Hiệu ứng sàng lọc của trẻ em gái giải thích rõ hơn mức GPI cao hơn trong việc chuyển tiếp lên trung học phổ thông là sự chuyển đổi xã hội lớn hơn bất kỳ sự chuyển đổi nào luan an 18 trong xã hội Campuchia [136]. Trong bối cảnh châu Á, cha mẹ khoan dung hơn với con trai, do đó trẻ em gái có xu hướng chú ý hơn vào việc học tập của mình trong khi các trẻ em trai thì được tự do hơn [114]. Cần phải chỉ ra rằng sự khác biệt trong bức tranh giáo dục của Philippines về việc trẻ em gái vượt trội hơn trẻ em trai đã diễn ra khá lâu. Rõ ràng nhất là bình đẳng giới có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế bằng cách mở rộng nguồn vốn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất nông nghiệp và tăng nguồn vốn vật chất.
Bằng chứng thực nghiệm từ Philippines được đặt cạnh các biểu hiện xã hội khác nhau về sự thay đổi bình đẳng giới đưa ra những quan điểm mới mẻ về giả định này [132]. Khu vực Caribê cũng nổi tiếng về học lực trội hơn của trẻ em gái so với trẻ em trai và xóa bỏ được khoảng cách về giới từ những năm 1990, đồng thời vẫn duy trì được lợi thế về mức nhập học của trẻ em gái trong suốt thập kỷ vừa qua. Tại các quốc gia Caribê, trẻ em gái bắt đầu đi học sớm hơn, đi học đều đặn và ít bỏ học hơn, duy trì việc học tập lâu hơn và đạt được trình độ giáo dục cao hơn vào thời điểm cuối của quá trình học tập so với trẻ em trai [162]. Có thể thấy, khi có cơ hội được giáo dục thì trẻ em gái sẽ tận dụng các cơ hội đó, học hành chăm chỉ và có kết quả học tập tốt.
Bằng chứng về trẻ em gái có học lực trội hơn trẻ em trai cho thấy một sự đảo ngược về tình trạng bất bình đẳng giới trong vấn đề đi học trung học phổ thông của trẻ em [162]. Đối với những quốc gia có tỷ lệ trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp hơn, các nghiên cứu cho rằng, một số trẻ em trai đăng ký nhưng không thể chuyển tiếp thành công vào môi trường học đường giáo dục trung học do học kém, điểm số thấp hoặc bỏ học với tỷ lệ cao [93]. Sự tiến bộ yếu hơn của nam sinh ở trường trung học phổ thông có liên quan mật thiết đến việc nam sinh vào giáo dục trung học phổ thông với kỹ năng thấp hơn nữ sinh [159]. Nam sinh trung học ở các nước OECD thường xuyên nghỉ học vì thành tích học tập kém trong suốt thời gian đi học [170].
Anh và Pháp đều là những nước mà học lực trẻ em trai kém hơn một cách tương đối so với trẻ em gái [162]. Sự khác biệt về giới trong lao động việc làm đóng một vai trò quan trọng trong nhu cầu giáo dục trung học phổ thông thấp của trẻ em trai. Một mặt, thị luan an 19 trường lao động có xu hướng tạo cơ hội làm việc cho lao động nam nhưng không phải lao động nữ ở một số quốc gia và điều kiện này khiến học sinh nam phải nghỉ học. Mặt khác, trẻ em trai có cơ hội lớn hơn để gia nhập lực lượng lao động khi đã đến một độ tuổi nhất định và cha mẹ cố tình cho con trai đi làm nếu họ nghĩ rằng chi phí cơ hội đi học là cao [138].
Những cậu bé từ các hộ gia đình nghèo hoặc các nhóm thiểu số thường có nguy cơ bỏ học cao hơn. Các gia đình có thể đáp ứng với những cú sốc kinh tế bằng cách rút các cậu bé từ trường học về để đi làm [169]. Những trẻ em trai ở các khu vực thành thị ở Brazil và Jamaica có thu nhập thấp thường bỏ học để làm việc lao động chân tay, xây dựng hoặc các công việc bán chuyên môn mà không yêu cầu hoàn thành giáo dục trung học vì họ cho rằng giáo dục không đảm bảo việc làm trong tương lai [169]. Tại Abu Dhabi, các cậu bé thiếu động lực để theo đuổi giáo dục trung học vì thực tế chúng được đảm bảo về sự nghiệp trong quân đội, cảnh sát hoặc kinh doanh gia đình [139].
Một nguyên nhân nữa khiến cho trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp trẻ em gái là do định kiến, kỳ vọng giới. Nghiên cứu của Peg Tyre (2008) tập trung vào sự cô lập mà nhiều trẻ em trai Mỹ trải nghiệm. Văn hóa nước Mỹ đã áp đặt cho trẻ em trai là nên “cứng rắn, độc lập, tự lập và kiên nhẫn”; ngược lại trẻ em gái được kỳ vọng sẽ hình thành mối quan hệ bền chặt với bạn bè và chia sẻ cảm xúc với nhau. Tác giả đưa ra một lượng dữ liệu định lượng ấn tượng để hỗ trợ cho giả thuyết của mình rằng trong thập kỷ hiện tại, các cậu bé đang trải qua những thách thức học tập ở mọi cấp độ giáo dục.
Chỉ có 65% nam sinh học xong trung học so với 72% nữ sinh và chỉ 44% học sinh học lớp nâng cao ở trường trung học là nam. Tác giả giải thích rằng sự chênh lệch giữa học sinh nam và nữ vượt qua ranh giới chủng tộc và kinh tế - xã hội và có thể được tìm thấy ở những khu dân cư nghèo, trong những trường học ưu tú phục vụ những người rất giàu, và ở nhiều trường ngoại ô trung lưu. Tác giả kết luận rằng ở mọi khía cạnh, các chàng trai ở Mỹ đều thất bại, họ ít thích đi học hơn, học kém hơn và bị đuổi học thường xuyên hơn các cô gái [143]. Định kiến giới và vấn nạn bạo lực cố thủ trong các trường học gây ra vấn đề bất bình đẳng cho trẻ em trai trong trường trung học phổ thông.
Các cậu bé thường được coi là bướng bỉnh và vô kỷ luật, và do đó có nhiều khả năng phải chịu hình luan an 20 phạt về thể xác hơn các trẻ em gái. Một nghiên cứu trường hợp gần đây ở Mông Cổ cho thấy khả năng bạo lực đối với nam sinh ở trường học cao hơn với khả năng tăng bỏ học [114]. Sức ép của nhóm đồng đẳng nam giới làm suy yếu tinh thần học tập của trẻ em ở nước Anh. Những hành vi bồng bột, thái độ hiên ngang và ồn ào là những thứ mà trẻ em trai ở nước Anh tìm kiếm để chứng tỏ nam tính của mình và đều có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc đi học.
Ngoài ra, trẻ em trai không có sự nỗ lực để tránh thi trượt [162]. Cuối cùng, mặc dù là cần thiết để đảm bảo rằng trẻ em gái được đại diện như nhau ở tất cả các cấp giáo dục, nhưng bằng chứng từ Mỹ Latinh cho thấy rằng một trong những lý do khiến trẻ em trai ít tham gia vào giáo dục là xem trường học là nơi thiếu tự tin của nam giáo viên và ít hình mẫu trong trường học [95]. Có sự chênh lệch trong giáo dục trung học ở Philippines và Thái Lan với tỷ lệ đi học của trẻ em trai thấp hơn. Một phần là do các cơ chế và chính sách bình đẳng giới tập trung chủ yếu vào phụ nữ và trẻ em gái [114].
Yếu tố dân tộc Có sự khác biệt dân tộc trong tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em trên toàn thế giới. Mặc dù phúc lợi xã hội trong lĩnh vực giáo dục đạt đến trình độ phát triển cao ở Na Uy, nhưng yếu tố dân tộc vẫn có ảnh hưởng đến thành tựu giáo dục trung học phổ thông của quốc gia này. Hình ảnh lãng mạn về sự thành công của nhà nước phúc lợi Na Uy đã trở nên mờ nhạt khi các yếu tố như giai cấp và dân tộc có liên quan đến việc các nhóm trẻ em dân tộc khác có khả năng bỏ học trung học phổ thông cao nhất [129]. Các nhóm dân tộc thiểu số gặp phải một số bất lợi về giáo dục nghiêm trọng nhất có thể bắt nguồn từ các mô hình phân biệt đối xử và kỳ thị văn hóa lâu đời và thường xuyên hàng thế kỷ.
Thành tích giáo dục của nhóm dân tộc thiểu số thấp phản ánh độ bền của các mô hình phân biệt đối xử.