Nghiên cứu các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam

Chuyên đề nghiên cứu Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

179
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM

1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Nghiên cứu của Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

2.2. Chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về giáo dục trung học phổ thông

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM ĐI HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÚNG TUỔI

3.1. Đặc điểm và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em đi học trung học phổ thông đúng tuổi

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em đi học trung học phổ thông đúng tuổi

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM TUỔI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHÔNG ĐI HỌC

4.1. Đặc điểm và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em tuổi trung học phổ thông không đi học

5. CHƯƠNG 5: ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG THEO HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM

5.1. Đặc điểm và thay đổi trong khả năng theo học trung học phổ thông của trẻ em

5.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trẻ em theo học trung học phổ thông

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục trung học phổ thông

Giáo dục trung học phổ thông (giáo dục trung học phổ thông) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng và kiến thức cho trẻ em Việt Nam. Nó không chỉ giúp trẻ em có cơ hội việc làm tốt hơn mà còn là nền tảng để phát triển xã hội. Tuy nhiên, việc tiếp cận giáo dục này vẫn gặp nhiều khó khăn. Theo thống kê, tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi còn thấp, đặc biệt ở các vùng nông thôn và dân tộc thiểu số. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận giáo dục. Như một nghiên cứu đã chỉ ra, giáo dục không chỉ là quyền mà còn là một công cụ để giảm nghèo và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình trạng kinh tế và giáo dục

Tình trạng kinh tế của gia đình có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em. Các gia đình có thu nhập thấp thường không đủ khả năng chi trả cho các khoản phí học tập, dẫn đến việc trẻ em không thể theo học (tiếp cận giáo dục). Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em từ các gia đình có thu nhập cao có khả năng đi học trung học phổ thông cao hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ cho những gia đình khó khăn để đảm bảo rằng tất cả trẻ em đều có cơ hội học tập bình đẳng.

II. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục

Nhiều yếu tố xã hội tác động đến việc trẻ em tiếp cận giáo dục trung học phổ thông. Các yếu tố này bao gồm yếu tố xã hội, bình đẳng giáo dục, và chính sách giáo dục. Một trong những yếu tố quan trọng là trình độ học vấn của cha mẹ. Trẻ em có cha mẹ có trình độ học vấn cao thường có khả năng tiếp cận giáo dục tốt hơn. Ngoài ra, văn hóa giáo dục trong gia đình cũng đóng vai trò quan trọng. Gia đình có truyền thống học tập sẽ khuyến khích trẻ em theo học hơn. Hơn nữa, chính sách giáo dục của nhà nước cũng cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em, đặc biệt là ở các vùng khó khăn.

2.1. Tác động của gia đình và cộng đồng

Gia đình và cộng đồng có ảnh hưởng lớn đến quyết định của trẻ em trong việc đi học. Trẻ em sống trong môi trường có sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng sẽ có động lực học tập cao hơn. Ngược lại, trẻ em sống trong môi trường thiếu sự quan tâm và hỗ trợ có thể dễ dàng bỏ học. Nghiên cứu cho thấy rằng sự tham gia của cộng đồng trong giáo dục có thể cải thiện tỷ lệ đi học của trẻ em. Các chương trình hỗ trợ giáo dục từ cộng đồng có thể giúp trẻ em vượt qua những khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục.

III. Thách thức trong việc tiếp cận giáo dục trung học phổ thông

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện điều kiện tiếp cận giáo dục trung học phổ thông, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Tình trạng trẻ em không đi học vẫn còn phổ biến, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi. Các yếu tố như khó khăn trong giáo dục, bất bình đẳng giới, và tình hình kinh tế vẫn là những rào cản lớn. Nhiều trẻ em không có cơ hội học tập do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc do thiếu cơ sở vật chất. Điều này dẫn đến việc trẻ em không thể phát triển toàn diện và có nguy cơ bị loại khỏi các cơ hội trong tương lai.

3.1. Bất bình đẳng trong giáo dục

Bất bình đẳng trong giáo dục là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Trẻ em từ các nhóm dân tộc thiểu số và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn thường gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận giáo dục. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến sự phát triển của xã hội. Cần có các chính sách cụ thể để giảm thiểu bất bình đẳng và đảm bảo rằng tất cả trẻ em đều có cơ hội học tập bình đẳng.

IV. Khuyến nghị nhằm nâng cao tiếp cận giáo dục

Để nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục trung học phổ thông cho trẻ em, cần có những chính sách và biện pháp cụ thể. Các chương trình hỗ trợ tài chính cho gia đình có thu nhập thấp, cải thiện cơ sở vật chất trường học, và tăng cường sự tham gia của cộng đồng là những giải pháp cần thiết. Hơn nữa, cần có các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục. Việc tạo ra một môi trường học tập tích cực và hỗ trợ sẽ giúp trẻ em có động lực hơn trong việc theo học.

4.1. Chính sách giáo dục và hỗ trợ

Chính phủ cần xây dựng và thực hiện các chính sách giáo dục phù hợp để đảm bảo rằng tất cả trẻ em đều có cơ hội tiếp cận giáo dục trung học phổ thông. Các chương trình hỗ trợ tài chính, học bổng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, và cải thiện cơ sở hạ tầng giáo dục là những biện pháp cần thiết. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho trẻ em.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRẺ EM 1. NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Yếu tố giới Một trong những yếu tố xã hội quan trọng mang đặc trưng cá nhân luôn được tìm hiểu trong các nghiên cứu về tiếp cận giáo dục nói chung và tiếp cận giáo dục trung học phổ thông nói riêng của trẻ em trên thế giới đó là giới. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có hai xu hướng trái ngược nhau trong mối liên hệ giữa việc trẻ em trai và trẻ em gái đi học ở bậc trung học phổ thông.

Nghiên cứu của một số nước nhận thấy trẻ em gái được đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai. Ngược lại, ở một số nước khác thì tỷ lệ nhập học của trẻ em trai lại thấp hơn. Theo các nghiên cứu, trẻ em gái đi học trung học phổ thông thấp hơn trẻ em trai là do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống “trọng nam khinh nữ”. Một nghiên cứu nhận xét, trong bối cảnh Nam Á và Pakistan, sự hoàn thành giáo dục sau trung học cơ sở của phụ nữ thấp có thể được giải thích bởi thực tế phổ biến là họ thường bỏ học để tiến hành hôn nhân và sinh con.

Cần nhấn mạnh rằng ở Nam Á, quyết định đi học hoặc bỏ học không phải là sự lựa chọn mà trẻ em đưa ra mà thay vào đó cha mẹ đóng vai trò chính trong quyết định này. Áp lực văn hóa và xã hội mạnh mẽ cũng là nguyên nhân khiến cha mẹ không cho con gái đến tuổi đi học và phải kết hôn sớm. Đây là một yếu tố quan trọng giải thích tại sao trình độ học của phụ nữ thường là thấp [94, 144, 150]. Đối với các quốc gia có tỷ lệ trẻ em gái đi học trung học phổ thông cao hơn, các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chuyển tiếp lên trường trung học phổ thông có thể phản ánh kết quả của hiệu ứng sàng lọc trong đó chỉ những trẻ em gái ngoan cường nhất đi học đến cuối cùng của bậc trung học cơ sở, được gia đình (giàu có) ủng hộ tạo điều kiện nên mang lại tỷ lệ chuyển tiếp cao hơn so với trẻ em trai.

Hiệu ứng sàng lọc của trẻ em gái giải thích rõ hơn mức GPI cao hơn trong việc chuyển tiếp lên trung học phổ thông là sự chuyển đổi xã hội lớn hơn bất kỳ sự chuyển đổi nào luan an 18 trong xã hội Campuchia [136]. Trong bối cảnh châu Á, cha mẹ khoan dung hơn với con trai, do đó trẻ em gái có xu hướng chú ý hơn vào việc học tập của mình trong khi các trẻ em trai thì được tự do hơn [114]. Cần phải chỉ ra rằng sự khác biệt trong bức tranh giáo dục của Philippines về việc trẻ em gái vượt trội hơn trẻ em trai đã diễn ra khá lâu. Rõ ràng nhất là bình đẳng giới có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế bằng cách mở rộng nguồn vốn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất nông nghiệp và tăng nguồn vốn vật chất.

Bằng chứng thực nghiệm từ Philippines được đặt cạnh các biểu hiện xã hội khác nhau về sự thay đổi bình đẳng giới đưa ra những quan điểm mới mẻ về giả định này [132]. Khu vực Caribê cũng nổi tiếng về học lực trội hơn của trẻ em gái so với trẻ em trai và xóa bỏ được khoảng cách về giới từ những năm 1990, đồng thời vẫn duy trì được lợi thế về mức nhập học của trẻ em gái trong suốt thập kỷ vừa qua. Tại các quốc gia Caribê, trẻ em gái bắt đầu đi học sớm hơn, đi học đều đặn và ít bỏ học hơn, duy trì việc học tập lâu hơn và đạt được trình độ giáo dục cao hơn vào thời điểm cuối của quá trình học tập so với trẻ em trai [162]. Có thể thấy, khi có cơ hội được giáo dục thì trẻ em gái sẽ tận dụng các cơ hội đó, học hành chăm chỉ và có kết quả học tập tốt.

Bằng chứng về trẻ em gái có học lực trội hơn trẻ em trai cho thấy một sự đảo ngược về tình trạng bất bình đẳng giới trong vấn đề đi học trung học phổ thông của trẻ em [162]. Đối với những quốc gia có tỷ lệ trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp hơn, các nghiên cứu cho rằng, một số trẻ em trai đăng ký nhưng không thể chuyển tiếp thành công vào môi trường học đường giáo dục trung học do học kém, điểm số thấp hoặc bỏ học với tỷ lệ cao [93]. Sự tiến bộ yếu hơn của nam sinh ở trường trung học phổ thông có liên quan mật thiết đến việc nam sinh vào giáo dục trung học phổ thông với kỹ năng thấp hơn nữ sinh [159]. Nam sinh trung học ở các nước OECD thường xuyên nghỉ học vì thành tích học tập kém trong suốt thời gian đi học [170].

Anh và Pháp đều là những nước mà học lực trẻ em trai kém hơn một cách tương đối so với trẻ em gái [162]. Sự khác biệt về giới trong lao động việc làm đóng một vai trò quan trọng trong nhu cầu giáo dục trung học phổ thông thấp của trẻ em trai. Một mặt, thị luan an 19 trường lao động có xu hướng tạo cơ hội làm việc cho lao động nam nhưng không phải lao động nữ ở một số quốc gia và điều kiện này khiến học sinh nam phải nghỉ học. Mặt khác, trẻ em trai có cơ hội lớn hơn để gia nhập lực lượng lao động khi đã đến một độ tuổi nhất định và cha mẹ cố tình cho con trai đi làm nếu họ nghĩ rằng chi phí cơ hội đi học là cao [138].

Những cậu bé từ các hộ gia đình nghèo hoặc các nhóm thiểu số thường có nguy cơ bỏ học cao hơn. Các gia đình có thể đáp ứng với những cú sốc kinh tế bằng cách rút các cậu bé từ trường học về để đi làm [169]. Những trẻ em trai ở các khu vực thành thị ở Brazil và Jamaica có thu nhập thấp thường bỏ học để làm việc lao động chân tay, xây dựng hoặc các công việc bán chuyên môn mà không yêu cầu hoàn thành giáo dục trung học vì họ cho rằng giáo dục không đảm bảo việc làm trong tương lai [169]. Tại Abu Dhabi, các cậu bé thiếu động lực để theo đuổi giáo dục trung học vì thực tế chúng được đảm bảo về sự nghiệp trong quân đội, cảnh sát hoặc kinh doanh gia đình [139].

Một nguyên nhân nữa khiến cho trẻ em trai đi học trung học phổ thông thấp trẻ em gái là do định kiến, kỳ vọng giới. Nghiên cứu của Peg Tyre (2008) tập trung vào sự cô lập mà nhiều trẻ em trai Mỹ trải nghiệm. Văn hóa nước Mỹ đã áp đặt cho trẻ em trai là nên “cứng rắn, độc lập, tự lập và kiên nhẫn”; ngược lại trẻ em gái được kỳ vọng sẽ hình thành mối quan hệ bền chặt với bạn bè và chia sẻ cảm xúc với nhau. Tác giả đưa ra một lượng dữ liệu định lượng ấn tượng để hỗ trợ cho giả thuyết của mình rằng trong thập kỷ hiện tại, các cậu bé đang trải qua những thách thức học tập ở mọi cấp độ giáo dục.

Chỉ có 65% nam sinh học xong trung học so với 72% nữ sinh và chỉ 44% học sinh học lớp nâng cao ở trường trung học là nam. Tác giả giải thích rằng sự chênh lệch giữa học sinh nam và nữ vượt qua ranh giới chủng tộc và kinh tế - xã hội và có thể được tìm thấy ở những khu dân cư nghèo, trong những trường học ưu tú phục vụ những người rất giàu, và ở nhiều trường ngoại ô trung lưu. Tác giả kết luận rằng ở mọi khía cạnh, các chàng trai ở Mỹ đều thất bại, họ ít thích đi học hơn, học kém hơn và bị đuổi học thường xuyên hơn các cô gái [143]. Định kiến giới và vấn nạn bạo lực cố thủ trong các trường học gây ra vấn đề bất bình đẳng cho trẻ em trai trong trường trung học phổ thông.

Các cậu bé thường được coi là bướng bỉnh và vô kỷ luật, và do đó có nhiều khả năng phải chịu hình luan an 20 phạt về thể xác hơn các trẻ em gái. Một nghiên cứu trường hợp gần đây ở Mông Cổ cho thấy khả năng bạo lực đối với nam sinh ở trường học cao hơn với khả năng tăng bỏ học [114]. Sức ép của nhóm đồng đẳng nam giới làm suy yếu tinh thần học tập của trẻ em ở nước Anh. Những hành vi bồng bột, thái độ hiên ngang và ồn ào là những thứ mà trẻ em trai ở nước Anh tìm kiếm để chứng tỏ nam tính của mình và đều có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc đi học.

Ngoài ra, trẻ em trai không có sự nỗ lực để tránh thi trượt [162]. Cuối cùng, mặc dù là cần thiết để đảm bảo rằng trẻ em gái được đại diện như nhau ở tất cả các cấp giáo dục, nhưng bằng chứng từ Mỹ Latinh cho thấy rằng một trong những lý do khiến trẻ em trai ít tham gia vào giáo dục là xem trường học là nơi thiếu tự tin của nam giáo viên và ít hình mẫu trong trường học [95]. Có sự chênh lệch trong giáo dục trung học ở Philippines và Thái Lan với tỷ lệ đi học của trẻ em trai thấp hơn. Một phần là do các cơ chế và chính sách bình đẳng giới tập trung chủ yếu vào phụ nữ và trẻ em gái [114].

Yếu tố dân tộc Có sự khác biệt dân tộc trong tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em trên toàn thế giới. Mặc dù phúc lợi xã hội trong lĩnh vực giáo dục đạt đến trình độ phát triển cao ở Na Uy, nhưng yếu tố dân tộc vẫn có ảnh hưởng đến thành tựu giáo dục trung học phổ thông của quốc gia này. Hình ảnh lãng mạn về sự thành công của nhà nước phúc lợi Na Uy đã trở nên mờ nhạt khi các yếu tố như giai cấp và dân tộc có liên quan đến việc các nhóm trẻ em dân tộc khác có khả năng bỏ học trung học phổ thông cao nhất [129]. Các nhóm dân tộc thiểu số gặp phải một số bất lợi về giáo dục nghiêm trọng nhất có thể bắt nguồn từ các mô hình phân biệt đối xử và kỳ thị văn hóa lâu đời và thường xuyên hàng thế kỷ.

Thành tích giáo dục của nhóm dân tộc thiểu số thấp phản ánh độ bền của các mô hình phân biệt đối xử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam" của tác giả Trần Quý Long, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hữu Minh và TS Đặng Thị Ánh Tuyết, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố xã hội như gia đình, cộng đồng và chính sách giáo dục, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em tại Việt Nam. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình giáo dục mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng này, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về những thách thức mà trẻ em Việt Nam đang phải đối mặt trong việc tiếp cận giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến giáo dục và sức khỏe tâm thần của học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực Trạng Sức Khỏe Tâm Thần Và Yếu Tố Liên Quan Của Học Sinh Trường Trung Học Phổ Thông Tại Nam Định Năm 2021", nơi phân tích tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh và các yếu tố liên quan. Ngoài ra, bài viết "Nguy cơ sử dụng ma túy ở học sinh trung học phổ thông: Thực trạng và giải pháp" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về một vấn đề nghiêm trọng khác ảnh hưởng đến học sinh, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về môi trường giáo dục hiện nay. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt động giáo dục đạo đức trong bối cảnh giáo dục hiện tại. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá để bạn có thể nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục trung học phổ thông tại Việt Nam.