Phần Mở đầu, Kết luận, đề tài có 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHẤP HÀNH KỶ LUẬT HỌC ĐƢỜNG CỦA SINH VIÊN CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤP HÀNH KỶ LUẬT HỌC ĐƢỜNG CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM 3 CHƢƠNG 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤP HÀNH KỶ LUẬT HỌC ĐƢỜNG CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHẤP HÀNH KỶ LUẬT HỌC ĐƢỜNG CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiệu quả chấp hành KLHĐ của SV 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1. Những nghiên cứu về vai trò của giáo dục chấp hành KL Giáo dục chấp hành KL nhƣ một phẩm chất nhân cách của con ngƣời đã đƣợc nhiều tác giả luận bàn, trong đó có thể kể đến nhƣ: C.
Mac và Ph. Hai ông đã cho rằng: Nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ giáo dục cho mình một thái độ đúng đắn, hợp lý đối với các vấn đề hành vi mà còn phải giáo dục những thói quen đúng đắn, tức là những thói quen hành động hoàn toàn không phải ngồi ngẫm nghĩ nữa, tức là ngƣời ta không thể làm khác đƣợc vì vốn đã quen làm nhƣ thế. Và việc giáo dục những thói quen đó là công việc khó khăn rất nhiều (V. Trong nghiên cứu của tác giả Culacốp về vai trò của giáo dục phẩm chất – tính KL trên đối tƣợng thanh niên, tác giả đã viết: Phải làm cho đối tƣợng giáo dục biến những yêu cầu, quy định có tính chất bắt buộc thành yêu cầu của chính bản thân mình và việc thực hiện yêu cầu đó trở thành sự bức thiết của mỗi ngƣời.
Đồng thời tác giả đã xác định con đƣờng hình thành phẩm chất này: Giáo dục một hành vi đẹp đẽ, một thói quen ổn định luôn luôn hành động theo đúng yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh - việc này chỉ có thể làm đƣợc trên cơ sở sự giác ngộ cao, sự tin tƣởng sâu sắc của họ vào những điều lệ ấy (V. Một lần nữa nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác giáo dục tính kỉ luật cho học sinh trong trƣờng học, nhà giáo dục A.Macarenco đã cho rằng: Sự rèn luyện tính KL là một quá trình sƣ phạm phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ công tác giáo dục hoặc sản phẩm của toàn bộ công tác giáo dục (A.37) và theo tác giả, KL sẽ tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ và tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà trƣờng”, ông cũng nhấn mạnh thêm:“Trƣờng học mà thiếu kỉ luật thì giống nhƣ cái cối xay nƣớc mà không có nƣớc” và ông cho rằng, nhiệm vụ của trƣờng học phải xây dựng đƣợc cho mình những biện pháp giáo dục kỉ luật mà trong đó trƣớc tiên cần giáo dục về KL là KLHĐ “KL làm cho quá trình tổ chức giáo dục đảm bảo tiến hành có kết quả và ngƣợc lại KL là kết quả nỗ lực của tập thể học sinh trong các hoạt động của các em; học đƣờng, lao động, sản xuất văn hóa… nó chính là kết quả của quá trình giáo dục. Hiểu KL chỉ là những biện pháp, những trật tự bề ngoài đó là điều nguy hại và sai lầm. Vì điều đó tạo cho tập thể trẻ em sự chống đối, mong muốn đƣợc tự do thoát khỏi vòng KL.
Trong xã hội của chúng ta, KL là hiện tƣợng đạo đức. Tính vô KL, con ngƣời sống không có KL đó là con ngƣời chống lại xã hội. KL của chúng ta luôn đi kèm ý thức. Trẻ em cần đƣợc giáo dục để hiểu rằng muốn đảm bảo sự yên ổn về chính trị và đạo đức trong tập thể cần có KL (A.Cairov khi bàn về giáo dục tính kỉ luật trong các cơ sở giáo dục, tác giả đã thấy vai trò của việc giáo dục KLHĐ với kết quả hoạt động dạy và học trong 5 nhà trƣờng: KL có ảnh hƣởng lớn đến kết quả học đƣờng, giảng dạy.
Do đó, muốn nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học phải chú ý đầy đủ đến việc rèn luyện KLHĐ cho học sinh (I. Nhƣ vậy, điểm lại ở một số quan điểm của các tác giả trên thế giới khi bàn về vai trò của giáo dục tính kỉ luật, các tác giả đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giáo dục phẩm chất này trên mọi đối tƣợng ngƣời học và quá trình giáo dục này là quá trình giáo dục khó khăn, lâu dài và phức tạp. Nhờ có KL mà mọi hoạt động trong nhà trƣờng đƣợc diễn ra theo đúng trật tự của nó. Những nghiên cứu về iều kiện o giáo dục kỷ u t tự giác trong h ct p Những nghiên cứu về vai trò chủ đạo của ngƣời giáo viên nhƣ là điều kiện đảm bảo cho giáo dục KL tự giác trong học đƣờng có thể kể đến nhƣ: Tác giả V.
Gmurman đã cho rằng: Việc chấp hành KLHĐ của học sinh phụ thuộc phần lớn vào cách tổ chức hoạt động học của ngƣời giáo viên (dẫn theo I. Chính vì vậy, tác giả đƣa ra yêu cầu cần phải: - Tổ chức tốt giờ học, đảm bảo cho tất cả học sinh đều tham gia vào hoạt động nhận thức tích cực. - Giáo viên phải chuẩn bị bài chu đáo, giảng dạy nhiệt tình có sức lôi cuốn, hấp dẫn học sinh và duy trì giờ học bằng một nhịp độ thích hợp. - Luôn để lớp “bận rộn với công việc, không dừng lại vì thiếu công việc”.
Cùng quan điểm với tác giả V. Gmurman, tác giả Bondar cũng cho rằng: KL là trật tự cần thiết cho mỗi giờ học, mỗi hoạt động chung của học sinh trong và ngoài trƣờng (dẫn theo I. Để đảm bảo kỉ luật trong học đƣờng, theo tác giả cần phải chú ý đến những đặc điểm sau: - Học sinh nắm đƣợc mục đích của giờ học và trình tự công việc sẽ làm - Tài liệu học đƣờng, dụng cụ thí nghiệm cần đƣợc chuẩn bị sớm và chu đáo - Giáo viên biết cách phối hợp nhiều cách thức dạy học - Tất cả học sinh đều bị lôi cuốn vào công việc một cách tích cực - Đƣa ra yêu cầu rõ ràng, hợp lí đối với hành vi của học sinh trong giờ học. Đồng thời tác giả cũng đƣa ra quan niệm của mình khi cho rằng những nguyên nhân dẫn đến học sinh vi phạm KLHĐ là do giáo viên không khéo léo tổ chức công việc độc lập của học sinh trong giờ học và sự thiếu hiểu biết của các em đối với những yêu cầu kỉ luật.
Cùng quan điểm với hai tác giả trên còn có tác giả: A.Macarencô cũng cho rằng, KLHĐ của học sinh phụ thuộc vào việc tổ chức giờ học và nội dung công việc mà học sinh phải hoàn thành. Theo tác giả, sở dĩ học sinh vi phạm kỉ luật trong giờ học là do giáo viên không tính đến mức độ mệt mỏi của các em và không chú ý đến thay đổi hình thức hoạt động trên lớp để giảm bớt sự mệt mỏi của các em (A. Tác giả Ân Thực Trƣớc (1963) cũng cho rằng lớp học là môi trƣờng chính yếu để giáo dục KLHĐ cho học sinh. Tác giả đã nêu ra một số phƣơng pháp giáo dục KLHĐ cho học sinh: 6 - Phải phát triển đầy đủ tính tƣ tƣởng của bài giảng.
- Cần giảng bài thật tốt mới làm cho giờ học có sự hấp dẫn đối với học sinh. - Thƣờng xuyên theo dõi hành vi của học sinh để kịp thời uốn nắn. Tác giả cũng nêu lên sự cần thiết phải xây dựng một chế độ, một nội quy lớp học học đƣờng thống nhất, trong đó phản ánh yêu cầu của việc giáo dục KLHĐ cho học sinh (Ân Thực Trƣớc và Sƣơng Hoa, 1963, tr. Nhƣ vậy, những nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài về điều kiện giáo dục KL tự giác trong học đƣờng cho học sinh đều có điểm chung khi đều nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời giáo viên nhƣ là điều kiện tất yếu quyết định đến việc chấp hành KLHĐ của học sinh và cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm KLHĐ của học sinh là do “giáo viên chƣa tổ chức hợp lý” quá trình dạy học của mình.
Quan niệm đến mức tuyệt đối hóa vai trò của giáo viên trong hình thức tổ chức dạy học trên lớp đối với việc chấp hành KLHĐ của học sinh nhƣ vậy chƣa thật sự đầy đủ mà cần xem vai trò của ngƣời giáo viên nhƣ một yếu tố cơ bản ngoài ra còn cần những yếu tố khác. Nghiên cứu àn về tính tích cực, tự giác h c t p của SV trong ào tạo theo h c chế TC Học chế TC ra đời vào năm 1872 ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng sang các nƣớc Châu Âu từ những thập niên cuối của thể kỷ XX với triết lý không bắt buộc ngƣời học phải học những gì mà ngƣời thầy có, mà ngƣời học đƣợc quyền lựa chọn (chọn thầy, chọn môn học, chọn tiến trình học.) học những gì họ cần. Đồng thời với triết lý giáo dục đó, hình thức đào tạo theo học chế TC cũng đòi hỏi ở ngƣời học có tinh thần tự giác cao, nỗ lực hết mình mới hoàn thành đƣợc nhiệm vụ học đƣờng, trong đó lấy hình thức tự học là chủ đạo (Ban GD&ĐT – Vụ Đại học, 1994, tr. Muốn vậy, đòi hỏi ngƣời học cần phải có KLHĐ.
Có thể nói, chƣa có những nghiên cứu cụ thể, điển hình về KLHĐ của SV trong đào tạo trong học chế TC nhƣng cũng đã có nhiều tác giả nêu ra những quan niệm có liên quan và đề cập tới KLHĐ của SV ở trong những hình thức đào tạo gần gũi với hình thức đào tạo theo học chế TC nhƣ: Tác giả R. Retxke – ngƣời Đức đã đề cập tới KLHĐ của ngƣời SV khi cho rằng: học tập ở đại học là một quá trình phát triển của con ngƣời, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên trong (tính tự giác học tập) đóng vai trò quyết định đến kết quả học tập. Việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ học đƣờng đặt ra đòi hỏi ngƣời học phải đấu tranh với bản thân một cách có phê phán và phải sáng tạo trong quá trình học (Retxke, 1995, tr.
Ở Mỹ ngay từ những năm 1920 đã có các nghiên cứu chỉ ra phƣơng pháp giáo dục dựa trên việc phát huy vai trò tự học của học sinh. Theo quan điểm này toàn bộ hoạt động học của ngƣời học là do họ tự thực hiện theo những công việc mà giáo viên giao. Với cách dạy nhƣ vậy, ngƣời học đƣợc chủ động bộc lộ khả năng hoạt động của bản thân.