Chương 1: Cơ sở khoa học về QLTC tại các trường ĐHCL trong điều kiện tự chủ Chương 2: Thực trạng QLTC của các trường ĐHCL trực thuộc Bộ GD&ĐT trên địa bàn TP.HCM trong điều kiện tự chủ 11 Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác QLTC tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ GD&ĐT trên địa bàn TP.HCM trong điều kiện tự chủ. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ 1. Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Các đơn vị SNCL hiện nay không những đông đảo về mặt số lượng, mà còn đa dạng về các loại hình và lĩnh vực hoạt động.
Nếu xét theo tiêu chí mức độ TCTC của các đơn vị SNCL có thể phân chia đơn vị SNCL thành 4 loại: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Để luận giải một cách cặn kẽ QLTC trong các đơn vị SNCL, trước hết phải hiểu rõ thuật ngữ “quản lý”. Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “quản lý”, từ các nhà khoa học trong và ngoài nước cho đến các nhà quản lý trong các đơn vị, mỗi trường phái, mỗi lĩnh vực có cách lý giải riêng, đều đưa ra các khái niệm khác nhau về “quản lý” và nhìn chung thì quản lý nó là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [52].
Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [52]. Harol Koontz cho rằng: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" [60]. Theo Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích" [52].
Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì nêu: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm 13 thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức.” [93] Ở Việt Nam Từ điển tiếng Việt có đưa ra khái niệm: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức"[29]. Hay "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra"[28]. Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [73].
Cho dù cách tiếp cận nào và lý giải khác nhau về thuật ngữ “quản lý”, song đều thừa nhận quản lý là một hành vi của chủ thể được biểu hiện thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được những mục đích của chủ thể đề ra. Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể xã hội. Tài chính là phạm trù lịch sử kinh tế khách quan bởi nó gắn liền với sự ra đời, tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Tài chính phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với nền sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa - tiền tệ.
Quản lý lấy đối tượng là hoạt động tài chính được gọi là quản lý tài chính. QLTC là một khâu của quản lý KT-XH, và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. QLTC là việc sử dụng các công cụ QLTC nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lý và sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. QLTC được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình KT-XH theo các 14 phương hướng phát triển đã được hoạch định.
Việc sử dụng nguồn tài chính ở đơn vị SNCL phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính. Để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, điều hành NSNN theo luật NSNN thì các đơn vị SNCL phải tuân thủ quy định về lập, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán thu chi. Cơ chế QLTC là tổng thể các phương pháp, công cụ và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản lý, quyết định sự thành công hay thất bại trong quản lý. Cơ chế QLTC có vai trò rất quan trọng quyết định tới sự phát triển của các đơn vị SNCL, thể hiện qua những nội dung cơ bản sau : - Cơ chế QLTC đơn vị SNCL có vai trò cân đối giữa việc hình thành, tạo lập và sử dụng các nguồn thu nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động.
Do đó, cơ chế phải được xây dựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và phong phú đa dạng giúp cho các đơn vị SNCL hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. - Cơ chế QLTC đơn vị SNCL tác động đến quá trình chi tiêu ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị. Vì vậy, cơ chế đó phải khắc phục được tình trạng lãng phí các nguồn tài chính, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị SNCL. - Cơ chế QLTC đơn vị SNCL đóng vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo tính công bằng hợp lý trong việc phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các loại hình đơn vị SNCL, nhằm tạo môi trường bình đẳng, cũng như sự phát triển hài hoà giữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
- Cơ chế QLTC đơn vị SNCL góp phần tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị SNCL. Nó được xây dựng trên quan điểm thống nhất và hợp lý, từ việc xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đến quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát nhằm phát huy vai trò của cơ chế TCTC, đạt được mục tiêu của kinh tế vĩ mô. 15 Cơ chế QLTC được xác định nhằm tăng cường hiệu quả của công tác QLTC tại các trường ĐHCL. Để đánh giá hiệu quả công tác QLTC thông thường sử dụng các tiêu chí như: - Tính hiệu lực: Cơ chế TCTC của trường ĐHCL phải đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ (không xảy ra hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật hiện hành khác), tính toàn diện (có đầy đủ các qui định cần thiết), tính phù hợp (nó được thể hiện là sự tương thích với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chế độ chính trị, tập quán, văn hóa truyền thống và xu hướng hội nhập quốc tế) và cuối cùng là phải có “giá trị thi hành” trên thực tiễn [79].
Tức là hiệu lực của cơ chế tự chủ tài chính được thể hiện khi nó đạt được tính khả thi, đây là thước đo thực tế của cơ chế TCTC. - Tính hiệu quả: Tính hiệu quả là một chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh kết quả của cơ chế tự chủ tài chính đem lại so với thời kỳ chưa áp dụng cơ chế TCTC cho các trường ĐHCL. Nó được thể hiện qua sự tăng, giảm của các chỉ tiêu có liên quan tới tài chính như sự tiết kiệm chi phí, hoặc lợi ích đem lại cao hơn chi phí bỏ ra, nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ trong các trường…Để đo lường tính hiệu quả của cơ chế TCTC người ta sử dụng chỉ tiêu: Qui mô, cơ cấu nguồn thu chi hàng năm; hiệu quả sử dụng vốn NSNN; thu nhập của cán bộ; suất đầu tư cho 1 SV; cơ cấu, tỷ lệ GV trên SV; số bài báo, công trình NCKH hàng năm của nhà trường…[72] - Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của cơ chế TCTC cho phép các trường được tự do lựa chọn tìm kiếm, sử dụng các nguồn kinh phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo đuổi trong ngắn hạn và dài hạn. Tính linh hoạt là những quy định trong nó phải có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường KT - XH, xu hướng phát triển của thị trường GDĐH trong nước và quốc tế.
Chẳng hạn, mức độ linh hoạt của cơ chế cấp NSNN, quyền tự chủ về tính học phí… sẽ tác động tới phản ứng của các trường trong việc thay đổi mục tiêu, đối tượng, số lượng tuyển sinh phù hợp với năng lực, nhu cầu đào tạo của xã hội. Tính công bằng: Những qui định trong cơ chế TCTC cần đảm bảo sự hài hòa giữa quyền hạn và trách nhiệm, phải cân bằng giữa chi phí và lợi ích đem lại.