CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 1.1 Giáo dục phổ thông và nguồn tài chính đối với giáo dục phổ thông Lịch sử phát triển và tiến bộ của xã hội loài người cho thấy: Xã hội muốn duy trì và phát triển thì con người trong xã hội cần được giáo dục liên tục để tiếp thu, cập nhật và phát triển kiến thức và kỹ năng mà loài người đã tích lũy được. Giáo dục là hiện tượng xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội. Giáo dục và đào tạo (GD & ĐT), xét về phương diện phạm trù khái niệm đang có nhiều ý kiến, nhận thức khác nhau. Điều đó sẽ dẫn đến những nhận thức khác nhau về quản lý tài chính đối với sự nghiệp Giáo dục đào tạo.
Vì vậy, trước khi đi sâu nghiên cứu đến cơ chế quản lý tài chính đối với lĩnh vực này cần làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận về giáo dục nói chung và GDPT nói riêng.1 Giáo dục đối với sự phát triển KTXH Nếu hiểu theo nghĩa rộng: Giáo dục được hiểu là sự truyền bá và lĩnh hội tri thức để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của con người. Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc dạy và học cùng các tác nhân khác, diễn ra trong và ngoài trường, cả ở gia đình và xã hội. Theo nghĩa hẹp, gắn với hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội có hệ thống tri thức của xã hội loài người, nhằm giúp con người phát triển, có lý tưởng, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp và hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân. Như vậy, giáo dục là quá trình nhằm hình thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người dạy và người học nhằm để người học lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm mà loại người đã tích lũy trong lịch sử.
Giáo dục tạo cho người học có được 4 kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với sự phát triển xã hội và môi trường nghề nghiệp. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển KTXH được thể hiện: Thứ nhất: Giáo dục góp phần tạo nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn kỹ thuật, một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Các học thuyết phát triển kinh tế từ trước đến nay cơ bản đều thống nhất quan điểm cho rằng để phát triển kinh tế, xã hội cần có 3 nguồn lực cơ bản: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực tài chính. Vị trí của các nguồn lực này thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội.
Trong nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò cơ bản, quyết định mức sản lượng tạo ra. Đến nền kinh tế công nghiệp, vị trí hàng đầu thuộc về nguồn lực tài chính. Ngày nay, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, tài chính vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng vai trò quyết định sẽ thuộc về nguồn vốn con người - nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh, tăng trưởng và phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính vì thế, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng luôn được coi là vấn đề ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn nhân lực. Theo các chuyên gia của tổ chức UNDP (chương trình phát triển của liên hợp quốc) các nhân tố đó là: Giáo dục - đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm; và sự giải phóng con người. Năm nhân tố trên có khả năng tạo ra những giá trị cho sự phát triển nguồn nhân lực, chúng gắn bó và ảnh hưởng lẫn nhau.
Trong đó Giáo dục đào tạo là cơ sở của các nhân tố khác. Vì vậy, giáo dục đào tạo là điều kiện thiết yếu để cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng cải thiện lao động và để duy trì sự đáp ứng về kinh tế - chính trị nhằm giải phóng con người. Do vậy, giáo dục được xem như là nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực, là điều kiện không thể thiếu nhằm hình thành nguồn vốn con người có chất lượng. Giáo dục còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao trình độ và khả năng thành thạo của người lao động.
Tức là góp phần tăng năng suất lao động. Mức độ 5 ảnh hưởng của giáo dục đối với năng xuất lao động được tính bằng bằng cách so sánh sự khác nhau giữa sản phẩm của một cá nhân làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó trải qua một khóa đào tạo với một chi phí của khóa học đó. Kết quả này được gọi là tỷ suất lợi nhuận xã hội khi đầu tư cho xã hội. Giáo dục còn được coi là nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững.
Khác với vốn vật chất, vốn con người khi được sử dụng sẽ tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm, tri thức. Vì thế giáo dục không ngừng làm gia tăng giá trị và có đóng góp ngày càng lớn hơn đối với sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Thứ hai: Giáo dục góp phần xóa đói, giảm nghèo. Nghèo đói là vấn đề lớn của cả nhân loại.
Đói nghèo có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên đó là trình độ học vấn của người nghèo khá thấp. Người nghèo có thu nhập thấp một phần do năng lực và kinh nghiệm làm việc thấp, một phần do lại bị phân biệt đối xử trên thị trường lao động. Giáo dục có thể giải quyết được vấn đề đó, vì thế mà giáo dục góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Giáo dục mang lại các kỹ năng, kiến thức và quan điểm giúp nâng cao năng suất của lực lượng lao động nghèo.
Thứ ba: Giáo dục góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành, bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững các quốc gia không ngừng xây dựng và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế quốc dân phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và phát huy được những lợi thế của quốc gia mình. Một trong những yếu tố tác động rất lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân chính là số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực của mỗi quốc gia.
Yếu tố nguồn nhân lực này chỉ có thể có được thông qua phát triển nền giáo dục quốc dân. Sự phát triển của nền giáo dục cả về quy mô, chất lượng và với một cơ cấu hợp lý về vùng, miền, trình độ, ngành nghề đào tạo. sẽ góp phần tích cực thúc đẩy quá trình 6 hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, đảm bảo sự tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam, được Đảng và Nhà nước xác định là con đường tất yếu để Việt Nam thoát nhanh khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển và trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống. Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”. Thứ tư: Giáo dục góp phần tạo lập sự công bằng trong xã hội.
Giáo dục mang lại các kỹ năng, kiến thức và quan điểm nhận thức xã hội, đó chính là nhân tố quyết định nâng cao khả năng tham gia vào thị trường lao động của lực lượng lao động nghèo. Công bằng trong giáo dục góp phần đem lại sự công bằng trong phân phối thu nhập. Thông qua các khoản chi tiêu của chính phủ cho giáo dục. Hiện nay, giáo dục tiểu học phổ cập không mất tiền là cách thức chủ yếu để tái phân bổ nguồn lực có lợi cho người nghèo.2 Giáo dục phổ thông trong điều kiện kinh tế thị trường Giáo dục là chuỗi hoạt động có ý thức của xã hội và giáo dục cơ bản là bước đầu hết sức quan trọng làm cơ sở cho quá trình đào tạo.
Trong giáo dục cơ bản thì bước đầu tiên là GDPT. Để thực hiện các mục tiêu giáo dục của mình, mỗi nước có một hệ thống giáo dục quốc dân đặc trưng, hệ thống giáo dục quốc dân nào cũng đều là toàn bộ các thiết chế 7 GDPT của quốc gia do nhà nước thiết lập, quản lý dưới những hình thức cụ thể khác nhau và được cấu trúc theo bậc, cấp ngành, phương thức giảng dạy và quản lý. Trong hệ thống giáo dục hiện đại, các bậc học được phân thành: Giáo dục tiền học đường, GDPT, giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học.