Chương 1: Cơ s lý luận về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 -2019. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. 7 C ư 1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN V S NGHIỆP C NG LẬP 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Để thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cho xã hội, Chính phủ thành lập các đơn vị sự nghiệp công để cung cấp dịch vụ công.
Dịch vụ công được hiểu là những hoạt động dịch vụ của các t chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, t chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và n định xã hội. Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo, kinh tế và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền Trung ương hoặc địa phương - Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nước quy định.
- Có t chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước hiện hành. 8 - Đơn vị sự nghiệp m tài khoản tại Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) theo quy định của Luật NSNN; được m tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ. - Thực hiện nghĩa vụ với NSNN: Đơn vị sự nghiệp có các hoạt động dịch vụ phải đăng k , kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Được huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các t chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư m rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, t chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật.
- Việc quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước đơn vị được để lại b sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay.
Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại b sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có). Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập - Đơn vị sự nghiệp công lập là một t chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời: Các đơn vị sự nghiệp được thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà 9 nước cấp kinh phí hoạt động. Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần được sử dụng thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng.
Trong trường hợp có thu tiền của người tiêu dùng thì cũng chi thu để bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng. Tuy nhiên, xã hội ngày càng đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp được hiểu hai khía cạnh: Chất lượng phục vụ và tiết kiệm nguồn lực cho xã hội. - Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và có tính lâu dài: - Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội. là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngư i, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng.
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Các ĐVSNCL không chỉ đông đảo về số lượng, mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại ĐVSNCL rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại.
- Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, ĐVSNCL có thể chia thành 05 loại sau: + ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang ộ: Bao gồm các ĐVSNCL được quy định tại các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu t chức của từng Bộ, cơ quan ngang ộ (như các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực, báo, tạp chí, trung tâm thông tin hoặc tin học; trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) và các ĐVSNCL trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của 10 Thủ tướng Chính phủ. + ĐVSNCL thuộc T ng cục, Cục. + ĐVSNCL thuộc UBND cấp Tỉnh + ĐVSNCL thuộc cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh như các bệnh viện trực thuộc S y tế, các trường THPT trực thuộc S giáo dục và đào tạo, các ĐVSNCL thuộc s khoa học công nghê. + ĐVSNCL thuộc UBND cấp huyện - Căncứ vào lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, đơn vị SNCL bao gồm:Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; Đơn vị SNCL hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực xã hội; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.
- Căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính: Dựa trên khả năng khai thác nguồn thu sự nghiệp các đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên như sau: + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư + Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên + Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí) + Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp). Q ả ý tà í tạ s nghiệp công l p 1. Khái niệm,sự c n thi t của quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập hái niệm về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Thuật ngữ “Quản l ” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản l và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. Quản l được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời t chức kiểm tra.
Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của t chức. Tài chính được thể hiện là sự vận động của các dòng vốn gắn với sự tạo lập và sử dụng những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội trong đó phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể. Quản lý tài chính trong các ĐVSNCL là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong các ĐVSNCL để đạt những mục tiêu đã định. Đối tượng quản lý của Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị, đó chính là hoạt động tài chính của những cơ quan, đơn vị này.
Đó là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong mỗi ĐVSNCL. Cụ thể là việc quản lý các nguồn tài chính như nguồn kinh phí được cấp từ NSNN, nguồn do đơn vị sự nghiệp tự khai thác, … cũng như những khoản chi đầu tư hoặc các khoản chi thường xuyên của các ĐVSNCL. Để Quản lý tài chính, các ĐVSNCL sử dụng nhiều phương pháp cũng như nhiều công cụ quản lý khác nhau nhưng mục đích hướng đến chính là tính hiệu quả trong hoạt động tài chính, nhằm đạt đến những mục tiêu đã định.