CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong quá trình phát triển của đời sống xã hội và khoa học công nghệ của các quốc gia, vai trò và vị trí của giáo dục đại học (GDĐH) ngày càng trở nên quan trọng. Trường đại học không chỉ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực khoa học & công nghệ trình độ cao mà đang dần trở thành các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và phát triển, chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần phát triển bền vững kinh tế xã hội. Ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Australia, Nhật Bản.
hệ thống GDĐH trở thành một ngành dịch vụ tri thức cao cấp góp phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc nội GDP của quốc gia thông qua các hoạt động dịch vụ đào tạo và khoa học & công nghệ. Một số nước như Thái lan, Malaisia, Philipin. thực hiện đổi mới và cải cách GDĐH theo hướng phát triển đa dạng hoá, chuẩn hoá, hình thành hệ thống bảo đảm chất lượng đại học với nhiều tiêu chí và chuẩn mực đánh giá chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, dịch vụ phát triển cộng đồng. Sự phát triển của hệ thống giáo dục, đào tạo và phát triển của khoa học công nghệ là vấn đề đặt lên hàng đầu ở tất cả các nước và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Nền giáo dục của Việt Nam đang nỗ lực không ngừng để hoàn thiện, phát triển và xây dựng thương hiệu trên thị trường giáo dục quốc tế. Thực tế trong vài năm trở lại đây GDĐH ở Việt Nam có những thay đổi nhất định: sự ra đời phát triển của các trường đại học tư thục, đào tạo liên kết quốc tế và du học nước ngoài ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, các trường đại học công lập của Việt Nam cũng buộc phải có những bước chuyển mình để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập giáo dục. Mặc dù đã nỗ lực xây dựng và khẳng định thương hiệu của GDĐH Việt Nam trong khu vực cũng như trên thế giới nhưng hệ thống vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế như: Chất lượng đào tạo chưa cao và chưa đáp ứng được sự nhu cầu phát triển của xã hội; Cơ cấu tổ chức chưa hợp lý; Quyền tự chủ của các trường đại học công lập chưa cao; Việc thực hiện các trách nhiệm xã hội vẫn chưa hiệu quả… Trước thực trạng đó, ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và gần đây là Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL).
Cùng với đó Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 21/05/2015 về kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, trong đó giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây 2 dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có nhiều đổi mới giúp cho các ĐVSNCL phát triển như: Tiếp cận tính giá cung cấp dịch vụ công theo nguyên tắc thị trường, được tự chủ thực sự trong việc tính toán các chi phí đào tạo, thu hồi chi phí để tái đầu tư, đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên. Đồng thời, giúp tiết kiệm chi Ngân sách Nhà nước bằng cách giảm chi hỗ trợ mang tính bình quân, cào bằng cho tất cả các ĐVSNCL, không gắn với kết quả hoạt động của đơn vị. Bên cạnh đó, Nghị định 16/2015/NĐ-CP cũng yêu cầu các ĐVSNCL phải đổi mới cơ chế tổ chức, hoạt động, cạnh tranh bình đẳng với các đơn vị cung cấp dịch vụ công ngoài công lập.
Thực tế báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại hội nghị Tự chủ đại học năm 2022 cũng chỉ ra rằng “Tự chủ đại học có nhiều chuyển biến tích cực” và “Tự chủ đại học tạo ra môi trường cạnh tranh”. Cụ thể, có 274 cơ sở GDĐH đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và 174 cơ sở đã được kiểm định chất lượng. Các chỉ số về mặt tài chính, nhân sự và học thuật cũng có những sự tăng trưởng đáng kể như tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ tăng từ 25% (2018) lên 31% (2021); xấp xỉ 33% số trường đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; thu nhập bình quân giảng viên tăng 21% (2018-2021); Số lượng bài viết công bố quốc tế cũng tăng 3,5 lần trong 04 năm… Tuy nhiên thực tế cũng chỉ ra rằng mức độ thực hiện tự chủ ở các trường là không đồng đều. Hiện nay, rất ít trường đại học thực hiện tự chủ tài chính chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự chủ chi 100% thường xuyên mà hầu hết là tự chủ chi một phần thường xuyên.
Bản chất của Luật Ngân sách Nhà nước là tất cả những cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, các ĐVSNCL, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngân sách Nhà nước thì đều phải chịu chấp hành kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước. Dưới góc độ quản lý Nhà nước về cả chuyên môn và tài chính cho thấy: các trường đại học đang được quản lý không đồng đều, không cùng một hệ thống kiểm soát và chi phối. Đây chính là một trong những nguyên nhân tạo ra sự phân biệt, đối xử không bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các trường. Thực tiễn đã có những Bộ ban hành các văn bản chồng chéo lên chức năng quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giữa các Bộ chưa có sự thống nhất trong cách quản lý hoạt động của các trường đại học.
Bởi vậy với sự phát triển đa dạng của kinh tế và sức hội nhập hiện nay thì kiểm soát chính là công cụ hữu hiệu của các nhà quản lý. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tự chủ đại học đang được thúc đẩy mạnh mẽ thì vai trò của kiểm soát càng trở nên quan trọng đặc biệt là đối với các trường đại học công lập nói riêng. Mặc dù công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán tài chính đối với các trường đại học công lập là hoạt động được thực hiện thường niên nhưng trong bối cảnh tự chủ chúng chưa đáp ứng được nhu cầu 3 quản lý. Đặc biệt là liên quan đến những nguồn thu, khoản chi lớn của trường đại học như thu học phí, mua sắm tài sản, trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đầu tư cho đổi mới chương trình đào tạo.
Do vậy, việc nhiên cứu một cách tổng thể về hệ thống kiểm soát gắn với cơ chế tự chủ mà cụ thể ở đây là tự chủ về tổ chức bộ máy và tự chủ về tài chính tại các trường đại học công lập là vô cùng cần thiết. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho thực tiễn triển khai hiệu quả công tác tự chủ tại các ĐVSNCL mà Nhà nước đang đẩy mạnh những năm gần đây. Bên cạnh đó, tại Việt Nam những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát gắn với tự chủ tổ chức bộ máy và tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập là chưa nhiều đặc biệt là những nghiên cứu riêng biệt về các trường đại học công lập Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Do đó để bổ sung cho những nghiên cứu này cũng như xuất phát từ bối cảnh thực tế, tác giả lựa chọn đề tài của luận án là “Hệ thống kiểm soát gắn với kết quả hoạt động của các Trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự chủ Vùng Đồng bằng sông Hồng”.
Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về kiểm soát và kết quả hoạt động trong các trường đại học trong và ngoài nước 1. Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, hệ thống kiểm soát trong các tổ chức nói chung và kiểm soát trong các trường đại học nói riêng là một trong những chủ đề nghiên cứu nhận được sự quan tâm của rất nhiều tác giả. Đặc biệt là những nghiên cứu về kiểm soát nội bộ (KSNB) và ảnh hưởng của nó tới kết quả hoạt động của tổ chức.
Điển hình như những nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Đinh Thế Hùng, Nguyễn Thu Hương (2014), Nguyễn Minh Tuấn (2015), Nguyễn Thị Hoàng Lan hay gần đây là của Phan Thị Thái Hà (2021). Có thể dễ dàng nhận thấy rằng hướng nghiên cứu này được khai thác và phát triển dựa trên việc mở rộng phạm vi đối tượng nghiên cứu như: KSNB trong các doanh nghiệp tư nhân, KSNB trong các ĐVSNCL hay chi tiết hơn là KSNB trong các trường đại học công lập. Trong đó các tác giả đều nhấn mạnh KSNB như là một quá trình với sự tham gia của nhà quản lý và các thành viên nhằm xác định những rủi ro và đưa ra những biện pháp hạn chế những rủi ro đó nhằm đảm bảo cho khả năng thực hiện được các mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Thị Hoàng Lan, 2019). Riêng đối với ĐVSNCL nói chung và các trường đại học công lập nói riêng thì KSNB có những điểm riêng biệt do những ràng buộc về tài chính và quản lý từ phía các cơ quan chức năng của Nhà nước (Phan Thị Thái Hà, 2021).
4 Nếu xem xét riêng những nghiên cứu trong nước về kiểm soát trong các trường đại học công lập thì có thể nhận thấy 02 hướng phát triển cơ bản là: Mở rộng nghiên cứu theo phạm vi của kiểm soát hoặc mở rộng nghiên cứu theo đối tượng nghiên cứu. Cụ thể theo hướng phát triển thứ nhất có thể phân tích dựa trên một số nghiên cứu nổi bật. Điển hình như nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Nguyễn Thu Hương (2014), Nguyễn Minh Tuấn (2015) chỉ giới hạn trong kiểm soát về tài chính. Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2015) thực hiện trên các trường đại học thuộc bộ công thương đã chỉ ra rằng công tác quản trị tài chính ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng đào tạo đại học.
Tuy nhiên nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2015) mới chỉ dừng ở mức nghiên cứu điển hình với phương pháp định tính thay vì định lượng được mức độ ảnh hưởng cụ thể. Trước đó những nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Nguyễn Thu Hương (2014) cũng chưa khẳng định được mối liên hệ này bằng kết quả định lượng mà chỉ dừng ở nghiên cứu trên phương diện lý luận hoặc định tính. Trong khi đó những nghiên cứu khác lại mở rộng hơn với đầy đủ phương diện của KSNB như nghiên cứu của Đinh Thế Hùng (2013); Phan Thị Thái Hà (2021).