Mở đầu; 3 chương (8 tiết); Kết luận và kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Luan van 16 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành c ng việc qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhi u người cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhi u người đi u phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những cách tiếp cận trên có thể hiểu: Quản lý là những tác động có tổ ch c, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm bảo đảm cho quá trình quản lý di n ra đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả cao.
Hoạt động quản lý là bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Đó là quá trình di n ra hệ thống những tác động nối tiếp nhau của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, bao gồm các nhân tố cơ bản: mục tiêu quản lý; chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; nội dung quản lý; phương pháp quản lý; kết quả quản lý. Sự tác động này có s c mạnh nhất định, buộc các thành viên thuộc nhóm đối tượng phải hoạt động theo lệnh của chủ thể. Quản lý tiến hành trên cơ sở của tổ ch c.
Quản lý và tổ ch c có mối quan hệ hữu cơ, trong đó tổ ch c là đi u kiện là n n tảng cho quản lý để hoạt động đạt mục tiêu của tổ ch c. Trong một tổ ch c có nhi u yếu tố: con người, c ng việc, cơ sở vật Luan van 17 chất, phương tiện kỹ thuật và dịch vụ. Tất cả các yếu tố này có mối quan hệ tương tác lập thành một hệ thống. Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống.Mark xem trọng quản lý như là kết quả tất yếu của sự chuyển hóa quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập thành một quá trình lao động xã hội được phối hợp có tổ ch c: “tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung tiến hành trên quy m tương đối lớn thì ít nhi u cũng cần đến sự chỉ đạo những hoạt động cá nhân nhằm đi u hòa các hoạt động đó và thực hiện ch c năng chung…”.
Trong các đối tượng quản lý, quản lý con người có tầm quan trọng bật nhất vì “hi n tài là nguyên khí của Quốc gia” và “dụng nhân như dụng mộc”. Quản lý là hoạt động có ý th c của con người nhằm định hướng, tổ ch c, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đ ra một cách hiệu quả nhất. Hoạt động quản lý được thực hiện trên cơ sở bốn ch c năng đó là lập kế hoạch, tổ ch c, chỉ đạo và kiểm tra. - Lập kế hoạch (planning): Kế hoạch phải xác định được các vấn đ như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách th c, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của cả quá trình.
- Tổ ch c (Organizing): là quá trình chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng trong kế hoạch thành hiện thực. Xét v mặt ch c năng quản lý, tổ ch c là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ ch c nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ ch c. - Chỉ đạo (Leading): có nguồn gốc từ hai thuật ngữ lãnh đạo và đi u hành. Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị để đi u hành, vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ ch c trên cơ sở sử dụng đúng các quy n lực của người quản lý.
Chỉ đạo là quá trình tác động, gây Luan van 18 ảnh hưởng đến thành viên trong tổ ch c để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đ ra. - Kiểm tra (Controlling): là quá trình thiết lập và thực hiện cơ chế thích hợp để thu thập và xử lý thông tin đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ ch c. Quy trình kiểm tra/ đánh giá là người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, sau đó đối chiếu, đo lường kết quả sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. Giáo dục quốc phòng - an ninh ở các trường đại học Giáo dục quốc phòng - an ninh là m n học bao gồm kiến th c khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật quân sự và thuộc nhóm các m n học chung.
Nội dung bao gồm kiến th c cơ bản v đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, c ng tác quản lý Nhà nước v quốc phòng - an ninh; v truy n thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, v nghệ thuật quân sự Việt Nam và kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết đáp ng yêu cầu xây dựng, củng cố n n quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, đồng thời, góp phần xây dựng, rèn luyện ý th c tổ ch c kỷ luật, tác phong khoa học ngay khi sinh viên đang học tập trong nhà trường và khi ra c ng tác ngoài xã hội. Giáo dục quốc phòng - an ninh cho sinh viên ở các trường đại học chịu sự chi phối của nhi u nhân tố, trong đó hai yếu tố mang tính quyết định ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động này chính là là người dạy (đội ngũ giảng viên) và người học (đội ngũ học viên) * Về người dạy Từ ngàn xưa, cổ nhân đã viết “lương sư hưng quốc” và “Quân - Sư - Phụ”,… nêu rõ tầm quan trọng của người thầy trong xã hội. Theo Luật giáo dục, nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục sinh viên trong các trường học và các cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân. Luan van 19 Nhà giáo có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trước hết họ là những người được xã hội giao trọng trách giáo dục nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.
Nhà giáo là nhân vật trung tâm và trung gian giữa các thế hệ. Theo Luật giáo dục, “giảng viên dạy ở các trường cao đẳng và đại học phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành và có ch ng chỉ sư phạm”. Phẩm chất nhà giáo, đặc biệt là nhà giáo quân đội rất cần thiết cho sự thành c ng của hoạt động sư phạm quân sự, nhà giáo quân đội cần có: Là c ng dân mẫu mực, có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có thế giới quan khoa học và có ý th c pháp luật tốt. Có tư tưởng đạo đ c, có lối sống lành mạnh, gương mẫu, trung thực, c ng bằng, nhân ái với mọi người để sinh viên noi theo.
Cán bộ giảng dạy phải tốt nghiệp trường sĩ quan hay giảng viên giảng dạy giáo dục quốc phòng - an ninh. Cán bộ giảng dạy tốt nhất trải qua kinh nghiệm trong quân đội. Đội ngũ cán bộ, giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh tại các trung tâm là người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và thực hiện hoạt động dạy học giáo dục quốc phòng - an ninh. Phần nhi u đội ngũ cán bộ giảng dạy là sĩ quan biệt phái, chưa được đào tạo bài bản v nghiệp vụ sư phạm, chưa được quan tâm đào tạo theo chuẩn quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như mặt bằng chung ở các nhà trường đại học.
C ng tác giáo dục quốc phòng - an ninh có liên quan và chịu sự chỉ đạo, quản lý của nhi u cấp, nhi u bộ, ngành, cơ quan và các tổ ch c, các lực lượng khác nhau. Giáo dục quốc phòng - an ninh có tính đặc thù cả v tổ ch c, nhân lực, quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên đến nội dung chương trình, phương pháp tổ ch c thực hiện. Giáo dục quốc phòng - an ninh là chương trình học có những đòi hỏi rất riêng v cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị và các phương tiện, thiết bị dạy học khác. Mặc dù có nhi u cố gắng song hiện nay việc vận dụng sáng tạo các Luan van 20 phương pháp dạy học, quản lý giáo dục còn nhi u hạn chế do lưu lượng sinh viên quá đ ng, cường độ lao động của đội ngũ cán bộ giảng viên còn rất cao.
* Về người học Đối tượng học giáo dục quốc phòng - an ninh tại trung tâm rất phong phú và đa dạng (ng n ngữ, vùng mi n, s c khỏe,…) học ở các ngành học và bậc học khác nhau (hệ đại học và hệ cao đằng, sinh viên trong và ngoài đại học quốc gia). Ý th c, thái độ và phương pháp học tập và thuộc tính tâm lý của sinh viên hoàn toàn khác nhau. Đi u này đòi hỏi nhà quản lý phải biết thiết kế chương trình kế hoạch giáo dục phù hợp từng đối tượng. Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng - an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng - an ninh thực chất là nắm giữ và đi u khiển các quá trình, các lực lượng, các hoạt động giáo dục quốc phòng bằng những tác động có mục đích của các chủ thể quản lý.
Căn c vào quy m , tính chất của hệ thống quản lý người ta thường xem xét và giải quyết các vấn đ của hoạt động giáo dục quốc phòng - an ninh.