Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHCN TẠI CÁC ĐẠI HỌC, CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động KHCN tại các Đại học, các trường đại học 1. Các khái niệm về quản lý hoạt động KHCN ở các Đại học, các trường Đại học 1. Khái niệm hoạt động KHCN Theo luật Khoa học và công nghệ: 29/2013/QH13, ngày 18/6/2013: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Hoạt động khoa học và công nghệ là là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó: Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu. Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới.
Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Dịch vụ KH&CN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng Luan van 6 sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội” (Luật KHCN ngày 29/2013/QH13). Hoạt động khoa học nói chung “là một quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN. Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN là quá trình tổ chức nghiên cứu.
Đó là việc phối hợp các yếu tố đầu vào để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, từ thu thập, xử lý thông tin, xây dựng các chi tiết công trình theo mục tiêu yêu cầu sản phẩm của đề cương nghiên cứu, tổ chức thu thập lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện công trình và chuẩn bị cho nghiệm thu” đánh giá. Khái niệm và đặc điểm của Quản lý hoạt động KHCN a. Khái niệm Hoạt động KH&CN trong các Đại học, các trường đại học là những hoạt động về NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, cải tiến kỹ thuật nhằm hợp lý hoá sản xuất, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN do các Đại học, các trường đại học thực hiện. Đại học và các trường đại học vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học, vừa là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực.
Nơi đây có đội ngũ các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao của đất nước, vừa làm công tác NCKH, vừa làm công tác giảng dạy. Do vậy, Quản lý hoạt động KHCN tại các Đại học, các trường Đại học là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý tới việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học đã được quy định nhằm phục vụ công tác bồi dưỡng CBGV, công tác quản lý, hoặc các nhu cầu khác theo thỏa thuận giữa thủ trưởng các Đại học và các trường đại học với cơ quan/tổ chức sẽ thụ hưởng kết quả nghiên cứu thông qua các chức năng quản lý. Đặc điểm của quản lý hoạt động KHCN Quản lý hoạt động KHCN tại các Đại học, các trường đại học (gọi tắt là đơn Luan van 7 vị) có những đặc điểm sau: Thứ nhất, công tác quản lý hoạt động KH&CN mang tính liên ngành: - Hoạt động NCKH trong trong các đơn vị do các CBGV, nghiên cứu viên và người học thực hiện nhằm phát triển tiềm lực đội ngũ của đơn vị. Hoạt động KH&CN của các đơn vị thực Aahiện theo các hướng nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng phụ thuộc vào sứ mạng, tầm nhìn và tiềm lực của đơn vị.
Hoạt động KH&CN của các đơn vị là nơi tập trung đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, hướng nghiên cứu chuyên sâu và có sự phân chia theo cơ cấu ngành nghề và lĩnh vực nghiên cứu. Do đó, các đơn vị cần có ưu thế trong việc tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu liên ngành, theo khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để đạt được mục tiêu trên, các đơn vị cần tăng cường hợp tác liên kết với nhau, đồng thời thu hút đông đảo người học cùng tham gia hoạt động NCKH; thường xuyên trao đổi cán bộ để phát huy ưu thế của đơn vị mình. Thứ hai, công tác quản lý hoạt động KH&CN luôn gắn liền với nhu cầu đào tạo và sản xuất, hình thành lên mối liên hệ KHCN - Đào tạo - Sản xuất: - KH&CN khi trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì mối liên kết giữa KH&CN với đào tạo và sản xuất ngày càng có vai trò quan trọng.
Hiệu quả của mối quan hệ đó phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa các khâu, cũng như kết quả hoạt động của từng khâu. - Kết quả của KH&CN sẽ cung cấp cho các nhà khoa học, giảng viên, người học các kiến thức mới. Từ đó, nâng cao chất lượng dạy và học trong quá trình đào tạo của các Đại học, các trường đại học. Ngoài ra, sự phát triển của KH&CN cũng góp phần đẩy mạnh quá trình sản xuất, nâng cao điều kiện cơ sở vật chất thuộc các lĩnh vực chịu tác động, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Sự phát triển của KH&CN cũng góp phần thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới, thay đổi trở lại cơ cấu đào tạo Luan van 8 nguồn nhân lực. KH&CN phát triển dẫn tới quá trình đào tạo cần thay đổi, năng suất lao động tăng cao và giúp con người làm chủ được công nghệ. - Sự gắn kết chặt chẽ giữa KH&CN, đào tạo và sản xuất trở thành xu thế tất yếu giống như biện pháp tích cực của nền giáo dục hiện đại. Giúp cho hệ thống giáo dục phát huy tính năng động, tích cực, sáng tạo và thấy được vai trò, hiệu quả của đội ngũ nghiên cứu trong sự phát triển xã hội.
Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động NCKH trong các Đại học, các trường đại học đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu góp phần nâng cao vị thế của mình. Để hoạt động KH&CN trong các đơn vị đạt hiệu quả cao đòi hỏi các định hướng nghiên cứu phải gắn liền với thực tiễn; đồng thời có sự hợp tới giữa đơn vị với các cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo. Thứ ba, sản phẩm từ hoạt động KH&CN trong các Đại học, các trường đại học trước tiên phải phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của chính đơn vị đó (như xây dựng các nguồn học liệu điện tử, dữ liệu về các công bố khoa học,.), sau đó phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội. Trong khi, các các trung tâm và viện nghiên cứu khác, thì sản phẩm được tạo thành từ KH&CN chủ yếu là những phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích hay các quy trình công nghệ,.
về giống cây trồng, vật nuôi,. gắn liền với sản xuất, kinh doanh cũng như xây dựng và đề xuất các văn bản quản lý cấp quốc gia. Chất lượng đào tạo của các Đại học, các trường Đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên trình độ cao cũng như nguồn học liệu của các Đại học, các trường Đại học là rất quan trọng. Nội dung và chương trình đào tạo của các các Đại học, các trường Đại học được xây dựng phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội sẽ giúp cho các Đại học, các trường Đại học đó phát triển và được người sử dụng lựa chọn.
Vì vậy, các chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên có trình độ cao và nguồn học liệu có liên quan rất chặt chẽ với hoạt động NCKH của các Đại học, các trường Đại học. Thông qua NCKH trình độ đội ngũ giảng viên, cán bộ của các Đại học, các trường Đại Luan van 9 học được nâng cao, các chương trình đào tạo và nguồn học liệu luôn được cập nhật, bổ sung và hoàn thiện. Vì vậy, đầu tư cho hoạt động KH&CN của các Đại học, các trường Đại học chính là đầu tư trực tiếp cho công tác đào tạo phát triển người học. Thứ tư, công tác quản lý hoạt động KH&CN của các Đại học, các trường Đại học thường rất thuận lợi.
Với đội ngũ các cán bộ, giảng viên có trình độ cao nhiều, các lĩnh vực nghiên cứu đa dạng, cộng với số lượng người học được đào tạo lớn sẽ góp phần thúc đẩy sự hỗ trợ trong nghiên cứu giữa cán bộ, giảng viên và người học; đồng thời giúp gắn kết nghiên cứu vào đào tạo. Đây chính là ưu thế trong nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học so với các trung tâm và viện nghiên cứu. Đặc biệt, đội ngũ người học có các sinh viên ưu tú, thạc sĩ, nghiên cứu sinh là các lực lượng cộng tác viên trong nghiên cứu rất mạnh. Chính các đối tượng này giúp cho các cán bộ, giảng viên thực hiện các đề tài/dự án hoàn thành được các nội dung nghiên cứu, đáp ứng được các sản phẩm đào tạo đặt ra.
Đồng thời, nâng cao được chất lượng cho người học cả kiến thức, kỹ năng và thái độ thích nghi kịp thời với nhu cầu xã hội sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở các Đại học, các trường Đại học. Đội ngũ người học được tham gia nghiên cứu khoa học được coi như bàn tay nối dài cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của các Đại học, các trường Đại học trong việc thực hiện các ý tưởng nghiên cứu đối với các dự án. Điều này, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của các Đại học, các trường Đại học đối với xã hội.