Chương I: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vỊ sự nghiệp công lẬp. (Sàn HH nga rsvee | 1.1 Khái niệm cơ bản. G - Gc- HH SH SH KH HH gen ng cay T 1.1 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập .2 Dom visu nghi€p cng lap ou. 12_ Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập .3 Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.4 Các nguyên tắc cơ bản về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự NGMSp CON LAP oo.5 Khái quátnhững quy định cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự NGMSp CON LAP oo.
G Chương 2: Thực trạng vẫn đề tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công — Liên hệ Dai hoc cong lap Viet Nam .1 Khai quat thuc trang ty chủ tài chính ở các đơn vỊ sự nghiệp công lập. 9 22_ Cơ chế tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam .1 Vài nét về hệ thống đại học ở Việt Nam .2 Kinh nghiệm tự chủ tài chính ở các đại học trên thế giới .3 Thực trạng vấn đề tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam hiện nay 22 Chương 3: Một số kiến nghị đối với vẫn đề tự chủ tài chính ở các trường đại học công 10 ¿(80 š 01077 =.1 Quan điểm định hướng .2 Điều kiện để đại học công lập Việt Nam có thể tự chủ tài chính. Một số kiến nghị đối với vẫn đề tự chủ tài chính ở các đại học công lập Việt Nam 36 Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo | Nhém 4 8 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiêu luận môn Ngân Sách Nhà Nước CHUONG 1 KHAI QUAT NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE CO CHE TU CHU TAI CHINH DOI VOI CAC DON VI SU NGHIEP CONG LAP 1.1 Khai niệm cơ bản 1.1 Cơ chế tự chủ tài chính dối với các đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là cơ chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công được trao quyên tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định. Hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công đang được thực thi theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ và Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện nghị định số 43.
Ngoài ra còn có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, chỉ thị số 01/⁄2006CT-BXD của Bộ xây dựng ngày 22/02/2006 về việc tăng cường quản lý thực hiện quyền tự chủ về tổ chức, biên chế và tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ điều chỉnh một số điều của nghị định số 43 đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo.2 Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do cơ quan Nhà nước có thâm quyên quyết định thành lập, thuộc sở hữu của Nhà Nước, là đơn vị dự toán độc lập, có con | i Nhom 4 2 Cao hoc Taichinh Ngân hàng Tiêu luận môn Ngân Sách Nhà Nước dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Có thể kế đến các đơn vị sự nghiệp công lập như: trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, văn hóa, sở khoa học công nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam.2 Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiỆp trong việc tô chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị dé cung cap dich vu voi chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sáng tạo, năng động, xây dựng “thương hiệu riêng” cho don vi minh. Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước. Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư đề hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dich vu theo quy định ngày càng tốt hơn.
Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, tạo tính linh hoạt, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, kích thích tính sáng tạo của các đơn vị sự nghiệp công Thứ hai, thu hút nhân lực tài năng đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện chất lượng dịch vụ. Xem xét trong ngành giáo dục chẳng hạn, trong những năm qua, mặc dù điều kiện đât nước và ngân sách nhà nước còn nhiêu khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm - Nhóm 4 10 Cao học Tài chính Ngân hàng Tiêu luận môn Ngân Sách Nhà Nước đành một tỷ lệ ngân sách đáng kẻ để đầu tư cho giáo đục. Với nguồn ngân sách đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyên sang cơ chế thị trường được 20 năm, đã hình thành các cơ sở giáo đục ngoài công lập ngày một tăng, thì cơ chế tài chính giáo đục thực tế vẫn chưa có thay đỗi về chất so với thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp.
Mức chi đầu tư xây đựng cơ bản còn rất thấp so với nhu cầu rất lớn của ngành. Định mức phân bé ngân sách giáo dục chưa gan chặt với các tiêu chí đảm bảo chat lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điều kiện về cơ sở vật chất.), chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chỉ phí đào tạo giữa nhà nước và người học ở giáo dục nghènghiệp và giao dục đại học, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân. Việc phân bỗ ngân sách cho giáo dục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học xây dựng mức chi và đơn giá chuẩn. Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách và cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công.
Chế độ học phí xây dựng từ I1 năm trước chưa thay đổi. Mức học phí quá thấp, dưới khả năng chi trả của người dân ở các vùng đô thị, không phủ hợp với mặt bằng giá cả cùng với chính sách cải cách tiền lương trong những năm qua. Một hệ quả tất yếu là môi trường và chất lượng giáo dục không đáp ứng yêu cầu của xã hội, thạc sĩ, tiễn sĩ đi tu nghiệp ở nước ngoài không muốn quay về phục vụ do mức lương quá thấp. Những gia đình có điều kiện, ngay cả Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo cũng cho con đi du học.
Đã có người từng gọi “du học” như một hình thức “tị nạn giáo dục”. Với cơ chế tự chủ tài chính, tự chủ tổ chức, ngành giáo dục có thể khắc phục được những khuyết điểm và hạn chế trên, thu hút nguồn nhân lực tài năng, cải thiện chất lượng đào tạo từ đó mới phát triển ngành giáo dục Việt Nam xứng tầm với sự phát triển ngày một mạnh mế của đất nước, biễn các đại học Việt Nam trong tương lai không xa trở thành trung tầm của tr thức. Thứ ba, giảm gánh nặng chỉ tiêu cho ngân sách nhà nước. Đơn cử ngành giáo dục chẳng hạn, ngân sách chi cho giáo dục năm 2008 đã tăng hơn 40 lần so với năm Nhóm 4 1H Cao học Tài chính Ngân hàng Tiêu luận môn Ngân Sách Nhà Nước 1990 với mức chỉ lên tới 4.7 tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách quốc gia trong khi mức học phí chỉ chiếm 5.5% ngân sách hằng năm chi cho giáo dục.
Nếu giao quyên tự chủ tài chính cho các trường sẽ có thể tiết kiệm được một khoản lớn.4 Các nguyên tắc cơ bản về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Khi thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, các đơn vị sự nghiệp công lập phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp địch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chinh cua don vi. Thứ hai, thực hiện công khai, dần chủ theo quy định của pháp luật. Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản ly cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thâm quyên.
Thư tư, Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyên, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. 15 Khái quát những quy định cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các đơn vị sự nghiệp công lập phải tuân thủ các quy định cụ thể như sau: vx Đơnv]sựnghiệp có các hoạtđộng dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.