Chương 1: Cơ sở lý luận vê quan lý thu thuế giá tri gia tăng đối với doanh nghiêp Chương 2: Thực trạng quan lý thu thuế giá tri gia tăng đối với doanh nghiêp kinh doanh khách sạn tại Chi cục thuế khu vực Sầm Sơn - Quang Xương Chương 3: Giai pháp hoàn thiên công tác quan lý thu thuế giá tri gia tăng đối với doanh nghiêp kinh doanh khách sạn tại Chi cục thuế khu vực Sầm Sơn - Quang Xương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT a.Khái niệm Thuế giá tri gia tăng là sắc thuế tiêu dùng nhiêu giai đoạn nhưng chỉ đánh trên phần giá tri tăng thêm của hàng hóa dich vụ phát sinh trong quá trình từ san xuất, lưu thông đến tiêu dùng.[5] Giá tri gia tăng là phần giá tri mới tạo ra trong quá trình san xuất kinh doanh. Đại lương này có thể đươc xác đinh bằng phương pháp cộng và phương pháp trừ. Theo phương pháp cộng, GTGT là tri giá các yếu tố cấu thành giá tri tăng thêm bao gồm tiên công và lơi nhuận.
Theo phương pháp trừ, GTGT chinh là khoan chênh lêch giữa tổng giá tri san xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá tri hàng hóa, dich vụ mua vào tương ứng. Tổng giá tri gia tăng ở tất ca các giai đoạn luân chuyển đung bằng giá bán san phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Do vậy, tổng số thuế thu đươc ở tất ca các giai đoạn đung bằng số thuế tinh trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. 6 GTGT đươc xác đinh bằng chênh lêch giữa tổng giá tri HHDV bán ra với tổng tri giá HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tinh thuế: Tổng giá trị HHDV mua vào GTGT = Tổng giá trị HHDV bán ra - tương ứng GTGT của HHDV Thuế suất thuế GTGT của Số thuế GTGT = X chịu thuế HHDV đó Có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dich vụ.
Tuy nhiên vê ban chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điêu này thể hiên qua các tác dụng của thuế GTGT. - Thuế là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiên chức năng quan lý vĩ mô đối với nên kinh tế. Nên kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thi trường có sự quan lý của nhà nước, do đó thuế GTGT có tác dụng rất quan trọng và đươc thể hiên như sau: - Tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa dich vụ chiu thuế suất thuế GTGT thì phai điêu tiết thu nhập vào ngân sách. -Cùng với các sắc thuế khác thì thuế GTGT cũng là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước.
- Thuế GTGT luôn là nguồn thu nội đia ổn đinh của ngân sách nhà nước vì bất kỳ hàng hóa, dich vụ nào thuộc diên chiu thuế GTGT khi bán ra phai nộp thuế cho ngân sách nhà nước.Đặc điểm của thuế GTGT - Thuế GTGT là một sắc thuế gián thu Loại thuế này không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài san của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua giá ca hàng hóa, dich vụ. Là loại thuế cấu thành trong giá ca hàng hóa và dich vụ, là khoan thu cộng thêm vào giá bán của người bán hàng người chiu thuế là người tiêu dùng, người nộp thuế là người cung cấp hàng hóa, dich vụ. Có nghĩa là người mua không trực tiếp nộp thuế 7 GTGT vào Ngân sách Nhà nước mà tra thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dich vụ cho người bán, trong đó bao gồm ca khoan thuế GTGT mà người mua tra. Người bán thực hiên nộp khoan thuế GTGT phai nộp “đã đươc người mua tra” vào ngân sách nhà nước.
- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dich vụ phát sinh ở các giai đoạn từ san xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dich vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu đươc ở tất ca các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tinh trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập kinh tế cao.
Thuế GTGT không chiu anh hưởng bởi kết qua kinh doanh của người nộp thuế. Bởi vì, thuế GTGT khi điêu tiết thông qua hàng hóa và dich vụ không phai là yếu tố chi phi tạo ra giá thành san phẩm ban đầu mà đơn thuần chỉ là một khoan thu thêm ngoài giá bán hàng hóa, dich vụ. Do vậy, dù cơ sở kinh doanh không có lơi nhuận thì số thuế GTGT nộp vào ngân sách nhà nước vân không thay đổi. - Thuế GTGT có tính lãnh thổ.
Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dich quốc tế thông qua viêc không thu thuế đối với HHDV xuất khẩu và đánh thuế đối với HHDV nhập khẩu, đồng thời khuyến khich san xuất hàng xuất khẩu, nâng cao kha năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, bao hộ hơp lý san xuất hàng hóa, dich vụ trong nước. - Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đươc thiết kế công bằng theo chiêu ngang có nghĩa là người có thu nhập cao hay thấp khi mua hàng hóa, dich vụ đêu phai chiu mức thuế suất như nhau.
Nếu người nào có thu nhập cao hơn thì số thuế phai nộp so với thu nhập sẽ it hơn và ngươc lại.2 Phạm vi áp dụng của thuế GTGT a.Đối tương chiu thuế giá tri gia tăng 8 Đối tương chiu thuế GTGT là hàng hóa, dich vụ mua vê dùng cho san xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Viêt Nam bao gồm ca hàng hóa, dich vụ mua của cơ sở kinh doanh hoặc cá nhân tại nước ngoài vê. Trừ các đối tương không chiu thuế GTGT theo luật quy đinh. Hoạt động tiêu dùng trong nước có thể là tiêu dùng cho hoạt động san xuất kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không san xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân.Đối tương không chiu thuế GTGT Đối tương cụ thể các nước quy đinh có khác nhau, ở nước ta theo quy đinh hiên hành có 26 nhóm hàng hóa, dich vụ thuộc diên không chiu thuế GTGT. Các nhóm hàng hóa, dich vụ này có thể xếp theo tinh chất và mục đich kinh tế xã hội sau đây: - Những nhóm hàng hóa, dich vụ mang tinh chất thiết yếu phục vụ cho nhu cầu đời sông hàng ngày, phục vụ cộng đồng.
Nhà nước không điêu tiết tiêu dùng như dich vụ khám chữa bênh; văn hóa, dich vụ giáo dục, đào tạo, con giống cây giống, vật nuôi vận chuyển hành khách bằng xe buýt, xe điên. - Hàng hóa nhập khẩu đươc viên trơ nhân đạo, viên trơ không hoàn lại, quà tặng của tổ chức quốc tế cho Viêt Nam khi có dich bênh, thiên tai, chiến tranh. Phát sóng truyên thanh, truyên hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp. Xuất ban nhập khẩu, phát hành báo, tạp chi, ban tin chuyên ngành, sách giáo khoa, giáo trình.
- Nhóm hàng hóa, dich vụ như san phẩm san xuất từ nông nghiêp, san phẩm muối đươc san xuất ra từ nước biển, san phẩm trồng trọt chăn nuôi, thủy san, hai san nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các san phẩm khác hoặc chỉ mới qua sơ chế thông thường của tổ chức cá nhân tự san xuất, đánh bắt bán ra và khâu nhập khẩu. - Hàng hoá nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho san xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Viêt Nam như hàng chuyển khẩu, quá canh, mươn đường qua Viêt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập 9 khẩu. Nguyên liêu nhập khẩu để san xuất gia công hàng hóa xuất khẩu, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hơp đồng san xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài. - Một số loại hàng hoá, dich vụ khó xác đinh giá tri tăng thêm như dich vụ tin dụng: cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhương, bao lãnh ngân hàng, cho thuê tàu chinh, bao thanh toán trong nước.
Cơ sở kinh doanh cung ứng, nhập khẩu hàng hoá, dich vụ thuộc đối tương không chiu thuế giá tri gia tăng không đươc khấu trừ và hoàn thuế giá tri gia tăng đầu vào của hàng hoá, dich vụ sử dụng cho san xuất kinh doanh hàng hóa, dich vụ này ở khâu không chiu thuế GTGT.Đối tương nộp thuế giá tri gia tăng Đối tương nộp thuế GTGT hay người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân có san xuất kinh doanh hàng hóa, dich vụ chiu thuế GTGT trong lãnh thổ Viêt Nam. Tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hóa, dich vụ từ nước ngoài tiêu dùng tại Viêt Nam thuộc diên chiu thuế GTGT.3 Căn cứ tính thuế GTGT Thuế GTGT đươc tinh dựa vào 2 căn cứ là giá tinh thuế và thuế suất thuế GTGT Giá tính thuế GTGT Giá tinh thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT đươc ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cung cấp dich vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT đươc ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu. - Đối với hàng hóa, dich vụ do cơ sở san xuất, kinh doanh trong nước bán ra hoặc cung ứng cho đối tương khác: Giá tinh thuế là giá bán chưa có thuế GTGT, Giá này còn bao gồm ca khoan phụ thu và phi thu thêm ngoài giá hàng 10 hóa, dich vụ mà cơ sở kinh doanh đươc hưởng ( nếu có), trừ các khoan phụ thu và phi cơ sở kinh doanh phai nộp ngân sách nhà nước theo quy đinh. - Đối với hàng hóa nhập khẩu: Giá tinh thuế GTGT = giá nhập khẩu tại cửa khẩu (CIF) + thuế nhập khẩu (nếu có) (+) thuế tiêu thụ đặc biêt (nếu có) (+) thuế bao vê môi trường (nếu có).
Giá nhập tại cửa khẩu (CIF) đươc xác đinh theo quy đinh vê giá tinh thuế hàng nhập khẩu. Thuế suất thuế GTGT Thuế suất đươc xác đinh là “linh hồn” của mỗi Luật thuế, thể hiên quan điểm mức động viên của Nhà nước với đối tương chiu thuế. Viêc quy đinh thuế suất hơp lý có ý nghĩa quan trọng. Luật thuế GTGT của Viêt Nam có hiêu lực thi hành từ 1/1/1999 quy đinh bốn mức thuế suất (0%, 5%, 10% , 20%); sau một thời gian áp dụng và để hoàn thiên Luật đã đươc điêu chỉnh, hiên nay có 4 mức thuế suất là 0%, 5%, 8% và 10%.
Mức thuế suất 8% đươc quy đinh tại nghi đinh số 15/2022/NĐ – CP ngày 28 tháng 1 năm 2022.