CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE KHẨU TRỪ, HOÀN THUÊ GIA TRI GIA TANG VÀ PHÁP LUẬT VE KHẨU TRỪ, HOÀN THUÊ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái quát về khấu trừ, hoàn thuế gia trị gia tang 1. Vài nét về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu.
Trước khi thuế GTGT ra đời, một số quốc gia đã áp dụng thuế doanh thu — một loại thuế bị thu trùng ở nhiều giai đoạn khác nhau từ sản xuất đến tiêu dùng. Thuế GTGT được đề xuất bởi một người Đức tên là Carl Fredrich Von Siemens vào năm 1918 [14, tr. Mặc dù vậy nhưng ông không thuyết phục được chính phủ Đức áp dụng nó vào thời điểm đó. Quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành thuế giá trị gia tăng là Cộng hoa Pháp vào năm 1954.
Thuế GTGT vừa dé thu vừa có năng suất thu cao và khắc phục được tính trùng lặp thuế của thuế doanh thu nên hiện nay đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới với những tên gọi khác nhau như: ở Pháp gọi là Taxe Sur La VaLeur Ajoutée (viết tắt là TVA), tại Anh là Vale Added Tax (viết tắt là VAT) dịch ra tiếng Việt là thuế gia tri gia tăng. Tại một sỐ quốc gia như Canada, Newzealand, Australia, Singapore, thuế GTGT được gọi là goods and services tax (viết tắt là GST) nghĩa là thuế hàng hoá, dịch vụ. Tại Nhật Bản, thuế GTGT được biết đến với tên gọi là thuế tiêu dùng. Tính đến nay, thuế GTGT đã được áp dụng tại hơn 150 quốc gia trên thé giới, trong đó có Việt Nam đã và đang thực hiện thuế GTGT như một công cụ hiệu quả nhất dé quản lý và điều tiết nền kinh tế.
Ở nước ta, Luật thuế giá trị gia tăng được ban hành ngày 10/5/1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/1999, nhằm khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu là thu thuế trùng lặp, nhiều mức thuế suất, hạn chế xuất khẩu dé phù hợp với yêu cau phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý thuế. Kê từ khi ban hành đến nay, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước, luật thuế GTGT qua từng thời kỳ đã bộc lộ những khó khăn cần giải quyết. Do đó, Quốc hội đã lần lượt ban hành, sửa đổi, b6 sung luật vào các năm 2003, 2005, 2008, 2013, 2014 và 2016 để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn và các thông lệ quốc tế. Giáo trình thuế Học viện Tài chính cho rằng thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn.
Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng” [18]. Luật thuế GTGT năm 2008 quy định: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giả trị tăng thêm cua hàng hoá, dịch vụ phat sinh trong qua trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng ”. Định nghĩa này thé hiện rõ nét sự khác biệt của thuế GTGT so với thuế doanh thu, theo đó thuế GTGT không tính trên phần doanh thu thu được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ mà là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ.
Phần giá trị tăng thêm được tính trên nguyên lý chung là bằng giá trị sản phẩm đầu ra (doanh thu/ giá bán) trừ giá trị sản phâm đầu vào (chi phí, giá mua. Đối với thuế doanh thu, tổng số thuế thu được từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng là sự cộng dồn số thuế ở mỗi khâu. Nếu hàng hoá, dịch vụ càng qua nhiều khâu trung gian thì tổng số thuế phải nộp càng lớn, việc tính thuế không phụ thuộc vào quy trình sản xuất và tiêu thụ của sản phẩm. Nói cách khác, do không được khấu trừ thuế doanh thu đầu vào nên các hoạt động từ quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối, đến tiêu dùng có tính độc lập tương đối với nhau.
Trong khi đó, thuế GTGT với bản chất là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên yếu tố đầu vào cũng giữ một vai trò quan trọng như đầu ra. Thuế GTGT đã đưa ra những khái niệm mới so với thuế doanh thu là khấu trừ và hoàn thuế. Việc cho khấu trừ thuế số thuế đã nộp ở khâu trước là dé đảm bao phan giá trị đã bị đánh thuế không bị đánh trùng ở các khâu tiếp theo. Thuế đã nộp ở khâu trước không được cộng vào làm căn cứ tính thuế ở khâu sau.
Hàng hoá và dịch vụ luân chuyển qua bao nhiêu khâu thì phải nộp thuế ở bấy nhiêu khâu song thuế ở mỗi khâu chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm ở khâu đó. Tổng số thuế cộng dồn ở tất cả các khâu sẽ đúng bang số thuế tính trên giá bán của hàng hoá, dich vụ ở khâu cuối cùng. Như vậy, có thể hiểu rằng thuế GTGT là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa, từ khi là những nguyên liệu thô sơ đến khi hoàn thành sản phẩm, đến giai đoạn cuối cùng là tiêu dùng. Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và đặc biệt thuế đánh vào khâu cuối cùng — khâu tiêu dùng bang tổng giá trị các lần đánh thuế của các khâu trước đó, do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thứ nhất, thuế GTGT thuộc loại thuế giản thu Tính gián thu của thuế GTGT được biểu hiện ở việc người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ. Người bán hàng hoá, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã được người mua trả” vào ngân sách nhà nước. Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Thuế GTGT không 10 chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, và không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất ké số giai đoạn nhiều hay ít. Nó không can thiệp sâu vào việc khuyến khích, hay hạn chế sản xuất, kinh doanh, đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng và khuyến khích nền kinh tế phát triển. Thứ ba, thuế GTGT có tinh lity thoái so với thu nhập Thuế GTGT phụ thuộc vao mức tiêu dùng của xã hội, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dung, trao đổi hang hoá, sử dụng dich vụ càng tăng lên thì càng làm tăng nguồn thu từ thuế GTGT. Thứ tw, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp Thuế GTGT đánh vao tat cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế nay vào NSNN. Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất, mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vảo giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Thứ năm, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh tho.
Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ Quốc gia. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong các giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khâu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Thé hiện việc thuế GTGT có tác động khuyến khích xuất khẩu, góp phần làm tăng ngoại tệ cho đất nước. Quyền đánh thuế 11 GTGT thuộc về quốc gia nơi có hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ, bất ké là hang hoá, dịch vụ đó được sản xuất ra ở đâu.
Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT cũng là một trong những sắc thuế quan trọng, do đó nó mang day đủ các vai trò chung của thuế: là công cụ quản ly và điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế; là công cụ tạo nguồn thu chủ yếu chỉ NSNN; và là công cụ hướng dẫn tiêu dùng, điều hoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Ngoài những vai trò chung, thuế GTGT cũng có những vai trò riêng, đặc biệt của nó như: Thứ nhất, thuê GTGT là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hang hoa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Chính sách phân biệt thuế suất cũng góp phần phân phối lại thu nhập theo hướng không thu thuế hoặc thu thuế thấp với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu cho tiêu dùng của tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Thứ hai, thuê GTGT là khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT là một loại thuế phô cập, có cơ sở tính thuế rộng chỉ phụ thuộc vào mức tiêu ding của xã hội nên nguôn thu lớn và 6n định. Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế GTGT trong tổng số thu ngân sách nhà nước hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27% - 29%. Thứ ba, thuế GTGT khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường. Bởi lẽ, thuế GTGT không trùng lặp, nó chỉ tính vào giá trị tăng thêm của HHDV qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, mà không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp trước được tính khấu trừ ở khâu sau do đó đã khuyến khích được sự đầu tư sản xuất.
12 Thứ tư, thuê GTGT khuyến khích xuất khẩu hàng hoá dich vụ thông qua việc áp dụng thuế suất 0%.