CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Lý luận cơ bản về thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và chính thức được áp dụng đầu tiên tại nước Pháp vào ngày 1 tháng 7 năm 1954. Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Đến nay, đã có khoảng 130 nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh, các nước trong khối cộng đồng châu Âu và một số nước châu Á, trong đó có Việt Nam Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được cải cách đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế từng thời kỳ.
Đánh dấu bước cải cách đầu tiên là việc ra đời một hệ thống thuế thống nhất, áp dụng cho mọi thành phần kinh tế; thứ hai là sự ra đời của một sắc thuế mới thay thế những sắc thuế còn nhiều nhược điểm, kìm hãm phát triển sản xuất như: thuế Giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu, thuế Thu nhập doanh nghiệp thay cho thuế lợi tức… Trong đó thuế Giá trị gia tăng ra đời là một sự thay đổi căn bản trong các sắc thuế gián thu. Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT được Quốc Hội khóa IX thông qua vào ngày 10 tháng 05 năm 1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT a) Khái niệm: Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng [8; tr 1] Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế. Giá trị gia tăng = tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra - tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng.
Số thuế GTGT = GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế x Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó Có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm của thuế GTGT. b) Đặc điểm của thuế GTGT: 6 Thuế giá trị gia tăng có đặc điểm sau: - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT.
Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: Người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN. - Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán cuối cùng. Tuy nhiên trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán cuối cùng, đâu là bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế.
Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó. Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT đối với doanh nghiệp là một khoản chi nhưng không phải chi cho sản xuất kinh doanh, nhưng đối với Nhà nước lại là một khoản thu cho NSNN.
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. - Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế GTGT a) Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế GTGT là: giá tính thuế và thuế suất [8; tr 12] Giá tính thuế giá trị gia tăng: Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp.
+ Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu. * Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho đối tượng khác: Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT, bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp NSNN. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hóa đơn. * Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT.
* Đối với hàng hóa nhập khẩu: Giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có) cộng (+) thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) + Thời điểm để xác định giá tính thuế GTGT là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ (đối với trường hợp xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành), không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền [4]. Giá tính thuế đối với một số trường hợp được quy định cụ thể như sau: + Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng hoặc để trả thay lương: Giá tính thuế GTGT được xác định theo giá tính thuế của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh các hoạt động này. + Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùng không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hoặc cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì phải tính thuế GTGT đầu ra. Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh.
8 Hàng hóa luân chuyển nội bộ như: Xuất hàng hóa để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh thì không phải tính, nộp thuế GTGT. + Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm: Giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả góp, trả chậm), không tính theo số tiền trả góp, trả chậm từng kỳ. + Đối với gia công hàng hóa: Giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế GTGT, bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công do bên nhận gia công phải chịu. + Đối với dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng: Giá tính thuế GTGT là tiền công, tiền hoa hồng được hưởng chưa có thuế GTGT.
+ Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT như tem, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết. thì giá chưa có thuế được xác định như sau: Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem.) Giá chưa có thuế GTGT = -------------------------------------------------- [8, Tr19]. 1 + (%) thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó Thuế suất thuế giá trị gia tăng Thuế suất hiện nay Việt Nam đang áp dụng các mức 0%; 5%; 10%. b) Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: Luật thuế GTGT hiện hành quy định việc tính thuế GTGT phải nộp có thể thực hiện bằng một trong hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.1) Phương pháp khấu trừ thuế: - Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với CSKD thực hiện đầy đủ chế độ, kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
- Cách tính thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT Thuế GTGT Thuế GTGT đầo = - phải nộp đầu ra vào được khấu trừ * Xác định thuế GTGT đầu ra: Thuế GTGT Giá tính thuế của hàng hóa, Thuế suất thuế GTGT = x đầu ra dịch vụ chịu thuế bán ra của hàng hóa, dịch vụ đó 9 Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ bán ra.