CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ THUẾ NHAP KHÁU 1.1 Cơ sở ý luận về quản lý thu nhập khẩu 11-1 Thuế nhập khẩu 1.11 Khải niệm và đặc điền của thuế nhập khẩu “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường có tên gọi chung là thu quan (Custom duty) Diy là loại thuế mã các nước ding đễ đánh vào hing bóa xuất nhập khẩu ti của khẩu nhằmhuy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất và ean thiệp vào. cquá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ‘Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là khoản thué mã Chính phủ dink vào sản phẩm nhập Khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dạng để ting nguén thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi se cạnh tranh của nước ngoài” (Trang 439). ‘Theo Từ diễn Bách khoa Việt Nam Tập 4, Nhà xuất bản Từ diễn Bách khoa Hà Nội (2005) th: "Thuế nhập khẩu thu vào hàng đem từ nước ngoài vào rong nước để tiêu dling.
Khi cần bảo hộ sản xuất và tiêu ding hồng nộ địa. người ta đánh thuế vào những hàng nhập thật cao nhằm ngũn chặn hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào "Ngược lại, muôn khuyến khích đưa hàng hóa từ mước ngoài vào thị trường trong nước, người tạ không thu oặc ru rt." Trang 286) ‘Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội (2001) thì: “Thud nhập khẩu là thud danh vào hàng hóa tại biên giới khi hàng nhập qua lãnh thổ hải quan (thông thường là một nước). ” (Trang 443) “Mặc dù còn nhiễu các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm hạt nhân hop lý của từng quan điểm, có thé rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây ~ Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mỗi quan hệ tiễn tệ phát sinh giữa "Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. Những mới quan hệ đưới dạng tiễn tệ này được này sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc iệt việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
+ Xét theo khía cạnh luật pháp, thế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật uy định theo mức thu và thời hạn nhất định! Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế nhập khẩu cùng như các quan niệm về thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát thành khái niệm chung về thuế nhập khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là một phan thu nhập được tạo ra từ các hoạt động nhập khẩu hàng hỏa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đồng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế nhập khẩu nhằm đáp ứng như câu chỉ tiêu của Nhà nước b- Đặc điển của thuế nhập khẩu Từ khái niêm của thuế nhập Khẩu cho thấy, thuế nhập khẩu cũng có những đặc điểm, của thuế nói chung đó là: - Thuế mang tính quyển lực Nhà nước. Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt rà thuế nhập khẩu qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa và bảo hộ nn sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, + Thuế là khoản đồng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bỗi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. - Thuế chứa đựng các yếu tổ kinh tế xã hội. Điều này được thể hiện ở chỗ thuế nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà.
nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhủ cầu chỉ tiêu của Nhà nước và các mye ti kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ "Ngoài những đặc điểm chung, thu nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là ~ Thué nhập khẩu chỉ thu vào hàng hóa nhập khẩu mà không thu vào hàng hóa sản xuất rong nước. Khác với thuế tr gia tăng cũng là một loại thuế gián thu nhưng tha vào cả hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Thông qua việc thu thuế nhập khẩu, giá vốn cña một mật hàng cụ thể khi đưa từ quốc gia này đến một quốc gia khác sẽ tăng lên tương ứng với mức đánh thuế từ đỏ nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo vệ và khuyến khích sin xuất trong nước phát triển ~ Thuế nhập khẩu gắn với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Bởi lẽ, ngoại hương là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại mà thuế nhập khẩu là công cụ góp phẩn thực hiện vai trò quản lý, ki soát hoạt động ngoại thương của nhà nước.
Sự xuất hiện của thuế nhập khẩu bắt nguồn từ yêu cầu điều chinh sự vận động của bàng hóa giữa các quốc gia có chủ quyền. Hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ không cổ định mà luôn vận động và phát triển theo sự phát triển chung của nhân loại. Vì vậy, có thể nói rằng thu nhập khẩu gin chặt với hoạt động kinh tế đổi ngoại và luôn vận động, phát triển theo sự phittrign của quan hệ kinh tổ đối ngoại của mỗi quốc gia ~ Thuế nhập khẩu chỉ do cơ quan Hải quan quản lý thu, cơ quan Thuế các cấp không thu (dhué gi trị gia tang, thuế tiêu thụ đặc biệt vừa do cơ quan Hải quan thu vừa do cơi quan Thuế thụ, Thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, môn bai. chỉ do cơ quan Thuế các cắp thu), nhằm gắn công tác quản lý thu thu nhập Khẩu với công tác quản lý nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động nhập khẩu.2 Vai trỏ của thuế nhập khẩu “Thuế nhập khẩu nằm trong hệ thống thu quốc gia cho nên cũng có vai trò của thuế nói chung đồ là tạo nguồn thu cho ngân sách Nha nước và điều tiết vĩ mô nên kinh tế.
Dưới góc độ một sắc thuế cụ th, vai trồ của thu nhập khẩu được thể hiện khác nhau tùy theo thực trang phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong tùng thời kỳ, ev thé như sa. Thuế nhập khẩu là một nguẫn thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước "Nguồn thu ngân sich nhà nước được cấu thành từ các nguồn chính: thuế, phi, I phí “Trong đó, thuế đóng gp một trong lớn ảnh hưởng đến quy mô ngân sich, Trong cơ ất nhập khẩu chiém một phẫn quan trong. Thông qua thuế nhập khẩu Nha nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa tập trung vào ngân sách. Tay thuộc vào mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhị Ls phát hiển ánh tế đối ngoại, quan điểm sử dung mà thuế xuất khẩu, nhập khẩu cổ vai tỏ khác nhau đối với những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thụ ngân sich Nhà nước.
Với các nước phát triển, nguồn thu tử thu xuất nhập khẩu chiếmti trọng không đáng ké trong tổng thu ngân sách nhà nước (chi từ 1-5%). Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, thuế xuất nhập khẩu luôn chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách. Ở Việt Nam những năm gần đây, thuế xuất khẩu, nhập khẩu ( mà chủ yếu là thuế nhập khẩu) đóng góp khoảng 25-30% trong tổng thu vé thuế. Tuy nhiên, kế từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế và thực hiện các cam kết giảm thuế: ASEAN, ASEAN- Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, WTO.
nguồn thu về thuế nhập khẩu giảm din trong tổng thu về thuế b. Gáp phần bảo hộ và khuyên khích sản xuất trong nước phát triển nhập khẩu tác động trực tiếp tới đầu vào quá trình sản xuất thông qua việc đánh thuế trên hing nhập khẩu lb máy móc, tư liệu, thiết bị sản xuất. Ngoài chức năng quản lý, điều tết vĩ mô nền kinh tế giống như các loại thuế gián thu khác, thuế nhập khẩu có chức năng bio hộ nền sản xuất trong nước qua việc tác động vio giá cả của hàng hóa nhập khẩu, cụ thé: - Với hing hóa là thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu phục vụ sin xuất, việc đánh thuế nhập khâu thấp tic động trực tiếp đến đầu vào của sản phẩm, giá đầu vio giảm, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có điều kiện đối mới công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hing héa sin xuất trong nước. Nhà nước thể hiện quan điểm của mình thông qua chỉnh sich thuế nhập khấu, và qua nội dung chính sách thu nhập khẩu, tị tường sẽ xác định tín hiệu hướng dẫn sản xuất, chuyển dich cơ cầu kinh té trong nén kinh tế quốc dân từ ngành, sản xuất kêm hiệu quả sang ngành sin xuất có hiệu quả, Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cầu ánh tế phải dựa trên nễn táng là chiến lược phát triển của nền kính t quốc ~ Với những loại hàng hóa khác, tủy thuộc vào nhủ cầu và đổi tượng sử dụng mà thuế nhập khẩu có tác đụng khuyến khích hay hạn chế tigu dùng bằng việc đánh thuế thấp hay cao.
Việc đánh thuế hảng nhập khẩu thể hiện mức độ hàng được sản xuất trong nước (hing cũng loại, hang tương tự), bởi lẽ + Khi đánh thuế hing nhập Khu cao thi giá cả bằng nhập khẩu cao, điều này dẫn đến hạn chế tu dùng hàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước, nhờ' .đồ ma hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh hơn hàng nhập khẩu do giá thành hạ so với hàng nhập khẩu tạo điều kiện sản xuất trong nước phát triển. + Khi đảnh thuế hàng nhập khẩu thấp sẽ khuyến khích nhập Khẩu những mat hàng đó, người tiêu ding có điều kiện ding hing nhập khẩu (giá rẻ, chit lượng cao., rực tiếp thúc diy các doanh nghiệp phải ci tến kỹ thuật, hoàn thiện công tác tổ chức quản lý, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành, nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường thì mới có khả năng cạnh tranh với hàng héa nhập khẩu Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, vai trỏ bảo hộ của thuế nhập khẩu sẽ bị hạn chế do việc phải thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực.