CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 1.1 Nguồn gốc và bản chất thuế 1.1 Nguồn gốc của thuế Nhà nước muốn tồn tại cần có nguồn tài chính để chi tiêu. Để có nguồn tài chính đáp ứng chi tiêu, nhà nước dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách nhà nước. Hình thức nhà nước dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng chi tiêu của mình, chính là thuế. Mác đã viết: “ Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nước [33]”.
Ăng Ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế [33]”. Thuế luôn gắn chặt với sự hình thành và tồn tại của hệ thống nhà nước, đồng thời thuế cũng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống nhà nước. Thuế xuất hiện khá lâu, từ lúc nhà nước bắt đầu xuất hiện, tuy nhiên khoa học về thuế chỉ ra đời vào cuối thời kỳ phong kiến, đầu thời kỳ chủ nghĩa tư bản. Các lý thuyết về thuế được xây dựng trên các học thuyết kinh tế dựa trên cơ sở một nền kinh tế thị trường.2 Bản chất của thuế Bản chất của nhà nước qui định bản chất của thuế.
Về mặt lý luận, bản chất của nhà nước vốn mang tính giai cấp. Không có có một nhà nước phi giai cấp mà chỉ có nhà nước của giai cấp nào mà thôi. Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp. Hồ Chí Minh đã từng nói: “… Trước kia phải nộp thuế, nay dân chủ cũng phải nộp thuế.
Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta, Nhưng nay ta đóng thuế là để làm lợi cho ta.Tóm lại, muốn xây dựng nước nhà, Chính phủ phải có tiền, tiền đó do đồng bào góp lại. Trước hết là đồng bào nông dân đông nhất, rồi đến công thương. Nếu không có tiền thì Chính phủ 4 không xây dựng được. Vì vậy, đồng bào phải giúp Chính phủ, nghĩa là đồng bào phải nộp thuế [33]”.
Có thể nói bản chất của một nhà nước không thể hiện ra trong các tôn chỉ nhà nước đó đưa ra, mà nó thể hiện rất cụ thể qua việc sử dụng tiền thuế của nhà nước đó trong việc điều hành đất nước. Việc đánh giá một nhà nước có thật sự do dân, vì dân hay không, chỉ có thể đoán chắc trong việc nhận định và đánh giá mục đích và hiệu quả của việc sử dụng tiền thuế mà người dân đóng góp.2 Khái niệm, đặc điểm của thuế 1.1 Khái niệm về thuế Hiện nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “ Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế khóa…[33]”. Đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế, trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher và Bryan Lowes thì cho rằng: “ Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản [33]”. Trên giác độ người nộp thuế, người ta định nghĩa: “ Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mổi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước [33]”.
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế khóa là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho nhà nước theo qui định. Trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của 5 Gaston Jeze đưa ra trong Giáo trình tài chính công. Trên cơ sở khái niệm này, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: “ Thuế là khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đổi khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng [33]”.2 Đặc điểm của thuế - Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền Phương thức đánh thuế trong nền kinh tế tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, trong trường hợp không có tiền thì phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra để thanh toán nợ thuế bằng tiền, khi đó mới được xem là hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước.
- Luôn gắn với quyền lực nhà nước Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã qui định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một loại thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - cơ quan quyền lực nhà nước tối cao. - Luôn gắn liền với thu nhập Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế.
Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho nhà nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa. - Không hoàn trả trực tiếp và sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng Đặc điểm không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, người nộp thuế không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác, họ chỉ biết nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước. Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế. Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi nhà nước 6 cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho nhà nước [33].3 Chức năng, vai trò của thuế 1.1 Chức năng của thuế a.
Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước. Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế. Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế. Chức năng điều tiết - Điều tiết kinh tế: Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. - Điều chỉnh chu kỳ kinh tế: Để điều tiết chu kỳ kinh tế có hiệu quả, thông thường các nhà nước dựa vào việc áp dụng các loại thuế có mức ổn định tự động cao, điển hình là thuế đánh trên thu nhập theo biểu thuế lũy tiến.
Tuy nhiên, cũng có nhà nước dùng biện pháp điều chỉnh chính sách cho từng thời kỳ bằng cách hạ hay tăng thuế suất đánh vào những hoạt động chủ yếu để tác động đến toàn bộ nền kinh tế. - Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý: Bằng việc ban hành hệ thống chính sách thuế, nhà nước sẽ qui định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể. Thông qua đó nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế. 7 - Điều chỉnh tích lũy vốn: Việc thay đổi các chính sách thuế của nhà nước có thể ảnh hưởng đến qui mô và tốc độ tích lũy vốn và do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế.
- Bảo hộ sản xuất trong nước: Nhà nước về mặt nào đó cũng phải có trách nhiệm hơn với các nhà đầu tư là các công dân của mình để giúp họ có thể kinh doanh có hiệu quả ngay trên đất của họ. Vì vậy xu thế bảo hộ cho các nhà đầu tư trong nước, cũng như khuynh hướng bảo hộ những ngành nghề sản xuất truyền thống của dân tộc là một tất yếu buộc mọi nhà nước phải quan tâm bằng nhiều biện pháp và về lâu dài tránh phụ thuộc vào nước ngoài về hàng hóa. - Điều tiết tiêu dùng: Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt…sẽ làm giảm cầu với những hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi. - Điều tiết xã hội: Nền kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng.
Trong bối cảnh đó, thuế, đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo [33].2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường a.