Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế GTGT Chương 2: Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp hoạt động trên TP.BG do Cục Thuế tỉnh Bắc Giang quản lý Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp hoạt động trên TP.BG do Cục Thuế tỉnh Bắc Giang quản lý SV: Ngô Phương Linh 3 Lép: Tài chính công 58 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Thị Thùy Dương CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ THUÊ GTGT 1. Khái quát về thuế GTGT 1. Khái niệm của thuế GTGT Thuế GTGT là sắc thuế đánh trên phan giá trị tăng thêm của HH-DV phát sinh ở các khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế GTGT phải nộp ở mỗi giai đoạn thường được tính bằng cách lấy số thuế trên giá HH-DV bán ra (gọi là thuế GTGT đầu ra) trừ đi số thuế trên giá trị HH-DV mua vào (gọi là thuế GTGT đầu vào được khấu trừ). Phương pháp này còn được gọi là phương pháp khấu trừ. Các quốc giá, tùy vào điều kiện có thê áp dụng thêm các phương pháp khác nhau cho phù hợp. Cơ sở tính thuế GTGT là giá HH-DV chưa có thuế GTGT.
Mức thuế có thê áp dụng đối với từng loại HH- DV nhưng thường có ít mức thuế suất hơn so với các loại thuế khác. Trên thực tế có 04 nhóm thuế suất phổ biến: (i) nhóm thuế suất điều tiết cao (áp dụng với các mặt hàng cao cấp, xa xi); (ii) nhóm thuế suất thông thường (áp dụng với da số HH-DV thông thường); (ii) nhóm thuế suất ưu đãi (áp dụng với các HH-DV thiết yếu hoặc được khuyến khích); (iv) nhóm thuế suất đặc biệt 0% (áp dụng đối với HH-DV xuất khẩu). Đặc điểm của thuế GTGT Là một sắc thuế thuộc loại thuế tiêu dùng đánh vào HH-DV nên thuế GTGT mang các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, là loại thuế gián thu, bởi vì thuế GTGT đánh gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua giá cả HH-DV. Do đó, NNT là người bán HH-DV nhưng người chịu thuế là người tiêu dùng HH-DV đó.
Thứ hai, đánh vào mọi giai đoạn của quá trình SXKD nhưng không bị trùng lắp, bởi vì chỉ tính trên giá trị tăng thêm của từng giai đoạn. Số thuế được tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng chính là tổng số thuế thu được từ tât cả các giai đoạn. Thứ ba, có tính trung lập cao. Thuế GTGT đơn giản chỉ là khoản tiền thêm vào giá bán, do vậy nó không có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của những cá nhân, tổ chức cung cấp HH-DV.
Hơn nữa, thuế GTGT thường ít đặt ra vấn đề miễn, giảm bởi không điều chỉnh trực tiếp sự chênh lệch đối với thu nhập hay tài sản. SV: Ngô Phương Linh 4 Lép: Tài chính công 58 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Thị Thùy Dương 1. Vai trò của thuế GTGT đối với nguồn thu NSNN Việc đánh thuế GTGT góp phan thúc day một phan thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN thông qua quá trình chi tiêu mua sam.
Chính vi thế, thuế GTGT có khả năng huy động được số thu không những lớn mà còn tương đối 6n định cho NSNN. Hơn nữa, thuế GTGT giúp đây mạnh công tác kế toán, hạch toán và mua bán hàng hóa có hóa đơn, chứng từ. NNT GTGT chấp hành tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ tính thuế đầu ra sẽ được khấu trừ thuế đầu vào. Đây là biện pháp kinh tế nhằm giúp người mua và người bán cùng nhau thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ.
Ở Việt Nam với nền kinh tế đang được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì thuế GTGT là công cụ rất quan trọng giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản ly vĩ mô trong nền kinh tế. Cụ thé, vai trò của thuế GTGT được thé hiện như sau: Thứ nhất, thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN. Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm khoảng 20-25% tông thu từ thuế, phí và lệ phí. Đối với nền KT-XH: Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN; góp phần thực hiện công băng xã hội; điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm.
Thứ hai, thuế GTGT khuyến khích xuất khâu. Đặc biệt là với những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như: nông sản, hải sản, lâm sản, thủ công mỹ nghệ. Những hàng hóa khi được xuất khâu không những không phải nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào sẽ làm giảm chi phí đầu vào đồng thời giảm được giá thành, tao cơ hội phát triển ngành xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi dé cạnh tranh với các hàng hóa khác trên thị trường quốc tế. Thứ ba, thuế GTGT giúp khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác.
Thuế GTGT gắn liền với thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.giúp hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Việt Nam, giúp cho hệ thống thuế có sự tương đồng so với các nước trong khu vực và trên thế giới, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào trong nước nhằm mở rộng việc cùng giúp đỡ, hợp tác trong kinh tế. Quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp 1. Sự cần thiết phải quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quá trình kinh tế hội nhập và phát SV: Ngô Phương Linh 5 Lép: Tài chính công 58 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Thị Thùy Dương triển kinh tế như nước ta hiện nay, doanh nghiệp có tác động chủ đạo và ảnh hưởng to lớn tới việc tăng trưởng trong nước.
Các doanh nghiệp không những đóng góp rất lớn vào nguồn thu chính của NSNN mà nó còn giúp cho kim ngạch xuất khâu hàng hóa tăng dần qua các năm. Ngoài ra, ngày càng có nhiều doanh nghiệp thành lập khiến nhu cầu về nhân công tăng cao giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Qua đó giúp cải thiện đời sống, góp phần tăng trưởng kinh tế và ôn định xã hội. Từ những vai trò của các doanh nghiệp trong quá trình hình thành nguồn thu NSNN như trên dẫn tới sự cần thiết phải day mạnh CTQL thuế GTGT.
Bên cạnh vai trò to lớn các doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế như sản xuất và cung cấp sản phẩm, góp phan tăng nguồn thu NSNN, cải thiện công ăn việc làm. thì vẫn còn một số vấn đề bất cập, chắng hạn như còn tồn tại nhiều thiếu sót dẫn đến thất thu thuế, điều này làm ảnh hướng xấu đến nền kinh tế cũng như nguôn thu NSNN. Do vậy, việc quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp là van đề thiết yếu, nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, đóng góp vào nguồn thu NSNN cũng như sự phát triển đất nước trong điều kiện phát triển, gia tăng sự gắn kết nền kinh tế và mở rộng sự tiếp xúc, gặp gỡ, trao đối giữa các nước trên thé giới. Nội dung của quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp Quản lý thuế là hoạt động quản lý tài chính nhà nước trên lĩnh vực thuế nên có nội dung rất phức tạp.
Tuy nhiên, các nội dung cơ bản của quản lý thuế giữa các nước không khác nhau và có bốn cách phân loại chủ yếu. Các cách phân loại có thể căn cứ vào chức năng, dựa vào trình tự thực hiện, căn cứ vào đặc điểm của hoạt động quản lý thuế hay cũng có thé dựa vào chu trình quản lý thu NSNN. Trong Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này sẽ phân tích căn cứ vào chức năng của quản lý thuế bao gồm 4 nội dung: Tuyên truyền, hỗ trợ NNT; Quản lý KK-KT thuế; Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế. Tuyên truyền, hỗ trợ NNT a.
Vai trò của hoạt động TT-HT NNT Hoạt động TT-HT giúp mở rộng nhận thức của doanh nghiệp về nghĩa vụ thuế. Thông qua hoạt động này, doanh nghiệp sẽ hiểu mục đích và lợi ích sử dụng tiền thuế đối với doanh nghiệp cũng như toàn xã hội. Khi hiểu được lợi ích của việc nộp thuế, các doanh nghiệp sẽ tự nguyện chấp hành. Ngoài ra, hoạt SV: Ngô Phương Linh 6 Lép: Tài chính công 58 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Nguyễn Thị Thùy Dương động này có lợi về mặt kinh tế không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cả CQT. Bằng việc cung cấp, hướng dẫn các thông tin chính xác về nghĩa vụ thuế, phổ biến về nội dung các quy định, các thủ tục về thuế, các quy trình nghiệp vụ. CQT đã giúp doanh nghiệp hiểu biết rõ và có nền tảng để thực hiện nghiêm chỉnh, đúng và đủ tất cả các quy định về thuế. Qua đó, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được phần nào do giảm bớt chỉ phí, thời gian, công sức, tiền bạc dành cho việc tìm hiểu pháp luật thuế, giảm sai phạm.
CQT cũng giảm được chi phí cho việc thanh tra kiểm tra xử lý sai phạm. Ngoài ra, TT-HT doanh nghiệp nộp thuế sẽ góp phần tạo mối quan hệ bình đăng giữa doanh nghiệp va CQT. Doanh nghiệp trở thành nhân tố trung tâm, được cung cấp và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về dịch vụ. CQT thay đổi tư duy quan lý từ mệnh lệnh hành chính sang tư duy phục vụ.
Các hình thức TT-HT NNT * Các hình thức tuyên truyền: Thứ nhất, tuyên truyền thông qua hệ thống tuyên giáo: Tuyên truyền qua nội dung sinh hoạt các chỉ bộ Đảng, tập huấn cho các báo cáo viên, giao ban với các cơ quan báo chi. Thứ hai, tuyên truyền thông qua trang web của CQT. CQT chủ động cung cấp hàng trăm văn bản pháp quy, hàng nghìn văn bản hướng dẫn cho doanh nghiệp. CQT cũng duy trì và cập nhật liên tục, thường xuyên, nhanh chóng, đủ hết tất cả các thông tin về thuế lên hệ thống Website.
Thứ ba, tuyên truyền bằng cách truyền tải những thông tin, thông điệp qua các phương tiện truyền thông đại chúng. CQT duy trì, định hướng thông tin tuyên truyền nhờ vào các chuyên mục Thuế được mở trên Đài phát thanh, Đài truyền hình và các báo, đáp ứng nhu cầu thông tin của doanh nghiệp với nhiều hình thức đa dạng, tăng tính hấp dẫn của các chương trình truyền hình về thuế, giúp cho doanh nghiệp hiêu và năm rõ hơn những nội dung cũng như mục tiêu về thuê. Thứ tư, tuyên truyền qua tờ rơi, tờ gấp, áp phích, băng rôn, ấn phẩm. Nội dung phải hết sức ngắn gọn, súc tích, dé hiểu.