Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh tại Chi cục thuế khu vực 5, tỉnh Đồng Tháp - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh tại Chi cục thuế khu vực 5, tỉnh Đồng Tháp. 8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ KHOÁN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.1 Thuế Đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến thuế được nêu lên dưới nhiều góc độ, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Theo các tác giả Giáo trình Luật thuế thì “thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ các điều kiện nhất định”. Cụ thể hơn, Giáo trình Quản lý Tài chính công quan niệm rằng “Thuế là một hình thức động viên bắt buộc, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN để phục vụ lợi ích công cộng và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”. Theo Luật quản lý thuế số 38/2019/QH-14 thì “Thuế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, HGĐ, HKD, cá nhân theo quy định của các luật thuế ” Như vậy, có thể thấy rõ các khái niệm trên đều thống nhất: “Thuế là khoản nộp bắt buộc vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”.2 Thuế khoán Thuế khoán còn được nhắc tới trong khoản mục 7, 8, 9 của thông tư 40/2021/TT – BTC như sau: 7.
“Phương pháp khoán” là phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu khoán do cơ quan thuế xác định để tính mức thuế khoán theo quy định tại Điều 51 Luật QLT. “HKD, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán” là HKD, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ trường hợp HKD, cá nhân kinh doanh thuộc trường hợp nộp thuế theo phương pháp kê khai và cá nhân kinh doanh thuộc trường hợp nộp thuế theo từng lần phát sinh. “Mức thuế khoán” là tiền thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN phải nộp 9 của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán do cơ quan thuế xác định theo quy định tại Điều 51 Luật QLT. Như vậy có thể hiểu: “Thuế khoán là hình thức thu thuế với một mức thuế có giá trị cố định được áp dụng đối với những HKD nhỏ.
Mức thuế khoán do cơ quan thuế quy định, dựa vào doanh thu và quy mô của HKD đó để định ra mức thuế khoán phù hợp. Đối tượng nộp thuế khoán thường là các cá nhân kinh doanh, nhóm cá nhân kinh doanh hoặc khai thác tài nguyên nộp thuế theo phương pháp khoán, gọi chung làm hộ nộp thuế khoán”. Khoản thuế khoán được tính theo năm dương lịch hoặc theo tháng trong trường hợp hoạt động theo mùa. Mức thuế cố định phải được công khai trong thành phố, quận hoặc bang.
Trường hợp thay đổi lĩnh vực, hoạt động, quy mô hoạt động, ngừng, tạm ngừng hoạt động, người nộp thuế phải khai báo điều chỉnh mức thuế khoán với cơ quan thuế.3 Hộ kinh doanh Theo nghị định số 78/2015/NĐ – CP: “Hộ kinh doanh được hiểu là cá nhân hoặc nhóm người tự làm chủ, trong đó cá nhân là công dân Việt Nam phải đủ từ 18 tuổi trở lên, có năng lực về hành vi dân sự hoặc thuộc HGĐ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm và số lượng lao động trong HKD phải dưới 10 lao động và người chủ tự chịu toàn bộ trách nhiệm trên tài sản xủa mình đối với HĐKD. Đối với trường hợp HKD muốn sử dụng trên 10 lao động thì phải đăng ký theo hình thức doanh nghiệp”. Dựa trên căn cứ đó, HKD được chia thành 3 loại căn bản: - Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ Cá nhân ở đây được hiểu từng đối tượng cụ thể, là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự thì có quyền thành lập HKD. Trong hoạt động thương mại cá nhân này phải tự mình chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình.
- Hộ kinh doanh do HGĐ làm chủ Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không công nhận HGĐ là chủ thể được 10 phép thực hiện các hoạt động SXKD thương mại như thương nhân hay công ty. Việc quy định “HGĐ” được kinh doanh dưới hình thức HKD như nêu trên có lẽ xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “HGĐ” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. - Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ Theo quy định tại điều 67 Nghị định 78/2015/NĐ – CP thì HGĐ là một nhóm người tự nguyện sử dụng vốn kỹ thuật để cùng nhau SXKD, cùng chia lãi, chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh của nhóm. Tuy nhiên, nghị định này chỉ cho phép “một nhóm người” đăng ký kinh doanh dưới hình thức HKD mà không có nhiều quy định cụ thể liên quan đến chế độ trách nhiệm của thành viên nhóm và chế độ quản lý HKD.
Tuy nhiên, về số lượng thành viên, pháp luật không có quy định hạn chế số lượng thành viên trong nhóm nhưng nếu sử dụng trên 10 lao động thì HDK phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức công ty. Kể từ ngày 04 tháng 01 năm 2021 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực thi hành, thay thế Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 đã có sự thay đổi quan điểm về HKD. “HKD” là cơosở sản xuất, kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên HGĐ đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với HĐKD của hộ. Trường hợp các thành viên của HGĐ đăng ký HKD thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện HKD.
Cá nhân đăng ký HKD, người được các thành viên HGĐ ủy quyền làm đại diện HKD là chủ HKD.4 Quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh Từ các khái niệm trên có thể hiểu quản lý thu thuế khoán HKD là quá trình đảm bảo thực thi các chính sách thuế đối với HKD, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế các cấp lên các HKD nhằm đảm bảo sự tuân thủ thuế theo luật định một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian trong điều kiện môi trường QLTT luôn biến động. Như vậy QLT khoán đối với HKD có những đặc điểm sau: (Tổng cục thuế, 2007) - QLT khoán mang tính quyền lực Nhà nước, được đảm bảo bằng pháp luật. 11 Nhà nước dùng quyền lực để đảm bảo nguồn thu thuế cho NSNN. - Việc QLT khoán đối với hộ cá thể cũng chính là quá trình bảo đảm việc thực thi chính sách liên quan thuế, là quá trình thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp trong lĩnh vực thuế.
Nhằm đảm bảo thực hiện đúng với quy định các chính sách có liên quan quản lý thuế khoán đối với HKD, các cơoquan ban ngành sẽ thực hiện một loạt cách hoạt động chủ yếu liên quan đến lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của các cơ quan thuế các cấp, với các vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau theo luật định. - QLT khoán đối với HKD còn gắn liền với cơ quan thuế. Chủ thể QLT khoán trực tiếp là cơ quan QLT ở các cấp được giao trách nhiệm trực tiếp thu thuế đến từng đối tượng nộp thuế. Đối tượng nộp là các HKD có nghĩa vụ phải nộp thuế vào NSNN theo quy định.5 Phương pháp tính thuế khoán đối với hộ kinh doanh.
Căn cứ tính thuế đối với HKD nộp thuế khoán là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu. - Doanh thu tính thuế: Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN là doanh thu bao gồm thuế của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán có sử dụng hoá đơn của cơ quan thuế thì doanh thu tính thuế được căn cứ theo doanh thu khoán và doanh thu trên hoá đơn. Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu tính thuế khoán hoặc xác định không phù hợp thực tế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về QLT.
- Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu: Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề ban hành kèm theo Phụ lục 1 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021. Cụ thể: - Phân phối, cung cấp hàng hóa: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; tỷ lệ thuế TNCN là 0,5%. 12 - Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; tỷ lệ thuế TNCN là 2%. - Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3%; tỷ lệ thuế TNCN là 1,5%.
- HĐKD khác: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 2%; tỷ lệ thuế TNCN là 1%. - Xác định số thuế phải nộp Số thuế GTGT Doanh thu tính Tỷ lệ thuế = x phải nộp thuế GTGT GTGT Số thuế TNCN Doanh thu tính Tỷ lệ thuế phải nộp = thuế TNCN x TNCN 1.2 Vai trò và Nội dung quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh 1.1 Vai trò quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh QLT khoán đối với các HKD có vai trò đảm bảo cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống KT - XH. Chính sách thuế thường được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng của thuế. Tuy nhiên, các mục tiêu đó chỉ trở thành hiện thực nếu QLT khoán thực hiện điều hành, giám sát tốt để NNT phải nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộp và NSNN.
Vì vậy, có thể khẳng định QLT khoán đối với HKD có vai trò quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế.2 Nội dung quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh Nội dung QLT khoán HKD là những hoạt động mà cơ quan thuế các cấp phải thực hiện trong quá trình QLTT. Đối với HKD khoán thuế, nội dung QLT bao gồm những nội dung cơ bản sau: 1.