Chương 1 đã giới thiệu tổng quátvề đề tài nghiên cứu, trong đó xác định rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiền cứu của đề tải. “Chương Ì cũng đã trình bảy sơ lược về tỉnh bình nghiên cứu liên quan đến đề tải trong và ngoài nước. Đây là cơ sở để tác giả so sánh các lý thuyết nền tảng liên quan đến quản lý thuế đất đai, từ đó định hướng phương pháp nghiên cứu phù hợp cho đề tài của mình. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUÊ SỬ DỤNG ĐÁT PHI NÔNG NGHIỆP.
Cơ sở lý luận vỀ thuế và quản lý thuế 2. Tổng quan về thuế 2. Khai niệm thuế. “Thuế xuất hiện đồng thời với nền văn minh ở Mesopotamia và ở Ai Cậi có thể thấy trên các bảng của người Sumer có niên đại 3.500 trước Công nguyên.
‘Athens và Rome di tién xa hơn bằng cách đánh thuế bán đất và nô lệ và thực thỉ thuế nhập khẩu. Với sự xuất hiện từ chế độ phong kiến, thuế én tệ bắt đầu có hiệu lực: sau đó chúng có thể là thuế gián thu hoặc thuế trực thu (Salanie, 2003). "Nhiều cách định nghĩa về thuế đã được đưa ra tùy theo vào góc độ và mục đích. nghiên cứu, tuy nhiên, khái niệm thường được sử dụng nhất là của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Theo đó, thuế là một khoản thanh toán bắt buộc cho chính phủ. Thuế có thể được đánh vào cá nhân, tổ chức, tải sản,. Có thể đánh thuế dưới dạng thuế thu nhập, thuế quà tặng, thuế bắt động sản, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thừa kế, thuế giá trị gìa tăng, thuế bán bảng, thu lọi tức vốn, tải sản thuế, Hoặc có thể hiểu một cách đơn giản hơn, thì thuế là một khoản phí tài chính bắt 'buộc hoặc một số loại thuế khác do một tổ chức chính phủ áp dụng đối với người nộp. Đặc điểm của thuế Các đặc điểm chính của thuế là: (1) Thuế là một mục phát sinh: NN thực hiện các khoản thụ, và bằng cách này, 'NN giảm tài sản của các cá nhân và tổ chức pháp nhân.
NN đánh thuế các thực thể kinh doanh đồng thời làm giảm sức mạnh kinh tế của họ, để tạo ra lực lượng kinh tế cho chính mình. 10 (2) Thuế là khoản nộp bắt buộc: Các chủ thể không thể thoái thác nghĩa vụ thuế. Nộp thuế là nghĩa vụ không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân, tổ chức pháp. nhân mà dựa trên chủ quyển tài chính của NN và lực lượng pháp luật.
(3) Thuế được thu để tài trợ cho chỉ tiêu công: Với các quỹ huy động được thông qua chỉ tiêu thuế, NN đáp ứng các khoản chỉ tiêu của nhà nước. (4) Thuế không được hoàn lại trực tiếp: NN cung cắp cho NNT những lợi ích gián tiếp, Điều này có nghĩ (NT không có quyền yêu cầu hoàn thuế trực tiếp. "Nguồn thu được từ thuế được sử dụng để tài trợ cho các nhiệm vụ của NN, như là chỉ cho giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế, thẻ thao, xây dựng và bảo trì đường bộ, đường cấp thoát nước, quốc phòng, hành chính, tỏa án, bảo tàng, nhà hát, an ninh nội bộ. và sự toàn vẹn của biên giới, bảo vệ nước, không khí và đắt đai khỏi ô nhiễm.
(5) Thuế không có mục đích cụ thể: Mục đích của thuế không được xác định. NN thu thuế và nộp vào NSNN, sau đó phục vụ cho các nhu cầu chung (bao. gồm các khoản chỉ tiêu của NN). (6) Thuế được thu bằng tiền: Nghĩa vụ thuế ở các quốc gia được xác định bằng.
tiền và NNT phải hoàn thành nghĩa vụ này bằng tiền. Nguyên tắc cơ bản của thuế. Trong bối cảnh nhiều chính phủ phải đối phó với việc giảm thu, ig chi va din đến các hạn chế về khóa, tăng thu vẫn là chức năng quan trọng nhất của thuế, đóng. vai trở là phương tiện chính để tài trợ cho hằng hóa công như duy trì luật pháp, trật tự và cơ sở hạ tằng công công.
Giả sử cần phải tăng một mức doanh thu nhất định, điều này phụ thuộc vào các chính sách kinh tế và tải khóa rộng hơn của quốc gia có liên quan, thì có một số cân nhắc vẻ chính sách thuế theo truyền thống đã định hướng. cho sự phát triển của hệ thống thuế. Chúng bao gồm tính trung lập, hiệu quả, chắc. chắn và đơn giản, hiệu quả và công bằng, cũng như tính linh hoạt.
Cụ thể như sau: (4) Trung lập: Thuế cần trung lập và bình đẳng giữa các hình thức hoạt động kinh doanh. Thuế trung lập sẽ góp phần vào hiệu quả bằng cách đảm bảo rằng việc phân bổ tư liệu sản xuất đạt được hiệu quả tối ưu. Sự méo mó, và tôn thất trọng lượng. tương ứng, sẽ xảy ra khi những thay đổi về giá gây ra những thay đổi khác nhau vẻ cung và cầu so với những thay đổi xảy ra khi không có thuế.
Theo nghĩa này, tính trung lập cũng dẫn đến việc hệ thống thuế tăng thu đồng thời giảm thiểu sự phân biệt đối xử ủng hộ hoặc chống lại bất kỳ lựa chọn kinh tế cụ thể nào. Điều này ngụ ý rằng, các nguyên tắc thuế tương tự phải được áp dụng cho tắt cả các hình thức kinh doanh, đồng thời giải quyết các đặc điểm cụ thể có thẻ làm suy yếu việc áp dụng bình đẳng. và trung lập các nguyên tắc đó (ii) Hiệu quả: Cần giảm thiểu chỉ phí tuân thủ đối với chỉ phí quản lý và kinh. doanh của các chính phủ cảng nhiều cing tốt (ii) Tính chắc chắn và đơn giản: Các quy định về thuế phải rõ rằng và dễ hiểu để NNT biết cách để thực hiện.
Một hệ thống thuế đơn giản giúp các cá nhân và doanh. nghiệp để dàng hiểu được các nghĩa vụ và quyền lợi của họ. (iv) Higu quả và công bằng: Việc đánh thuế nên tạo ra đúng số lượng thuế vào đúng thời điểm, đồng thời tránh đánh thuế hai lần. Ngoài ra, cần giảm thiểu khả năng.
trốn tránh và nề tránh. Các cuộc thảo luận trước đó cho rằng nếu có một nhóm NNT. về mặt kỹ thuật phải chịu thuế, nhưng không bao giờ phải nộp thuế do không có khả. năng thực thi, thi công chúng đóng thuế có thể xem thuế như không công bằng và không hiệu quả.
Do đó, khả năng thực thi trên thực ủa các quy tắc thuế là một yếu tố quan trọng cần được xem xét đối với các nhà hoạch định chính sách. Ngoài ra, vì nó ảnh hưởng đến khả năng thu và khả năng quản lý thuế nên khả năng thực thi la rit quan trọng đẻ đảm bảo hiệu quả của hệ thống thuế. (v) Tính linh hoạt: Hệ thống thuế phải đủ linh hoạt và năng động để đảm bảo chúng bắt kịp với sự phát triển của công nghệ và thương mại. Điều quan trọng là một hệ thống thuế phải đủ năng động và linh hoạt để đáp ứng nhu cầu thu ngân sách hiện tại của các chính phủ đồng thời thích ứng với những nhu cầu thay đổi liên tục.
Điều mày có nghĩa là các đặc điểm cấu trúc của hệ thống phải bền trong bối cảnh chính sách thay đối, nhưng đủ linh hoạt và năng động để cho phép các chính phủ phản ứng 12 theo yêu cầu để bắt kịp với sự phát triển công nghệ và thương mại, có tính đến việc các phát triển khó dự đoán trong tương lai. “Tóm lại, mục đích chính của thuế là huy động nguồn lực để tải trợ cho chỉ tiêu của chính phủ theo cách khả thi về mặt hành chính, công bằng vả hiệu quả (Burgess va Stern, 1993). Thuế cũng cung cấp một trong những lăng kính chính để đo lường, năng lực NN, sự hình thành NN và cá mỗi quan hệ quyển lực trong xã hội (Di-John, 2006). Thuế được sử dụng để khuyến khích hoặc không khuyến khích một số loại hành vi, để sửa chữa những điểm không hoàn hảo của thị trường và sửa đổi việc phân phối thu nhập hoặc của cải.
Tuy nhiên, ở cắp độ cơ bản, lý do chính để hệ thống thuế. tổn tại là phân bổ chỉ phí của chính phủ theo một cách nào đó công bing (Bird vi Zolt, 2005). Nói cách khác, nhu cầu tăng thu ngân sách phải được điều hòa với các mục tiêu khác của chính sách kinh tế, chẳng hạn như phân bổ nguồn lực hiệu quả, phân phối thu nhập công bằng và khu vực thương mại cạnh tranh (Bovenberg, 1986). Buchanan (1984) nhìn vấn đề từ khía cạnh khác, kết nối thuế với công lý.
Theo ông, **công bằng” trong thuế liên quan đến việc nên trích bao nhiêu phần trăm thu nhập. quốc dân cho các mục đích tập thể cũng như cách phân chia phần thu nhập đó giữa những người khác nhau. Khải niệm Quản lý NN đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyẻi của NN lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh. tẾ trong và ngoài nước, các cơ cấu có thể có để đạt được các mục tiêu phát triển kinh.
tế đắt nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập vả mở rộng giao lưu quốc tế. Trong khi đó quản lý tài chính công là quá trình NN hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động đến các hoạt động. của tải chính công, làm cho chúng vận động phủ hợp với yêu cầu khách quan của nền 13 kinh tế-xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng do NN dim nhận. Quản lý thuế rõ ràng là một nội dung của quản lý NN vẻ kinh tế.
Ngoài ra, nó là một nhánh quan trọng của quản lý tài chính công. Do vậy, khái niệm quản lý thuế. cũng có một số nét tương đồng với hai khái niệm trên. "Quản lý thu là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có ức năng thụ NSNN thực hiện”.
"Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”. Với quan niệm như vậy, là quản lý thu thuế. Nó bao gồm xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức. bộ máy ngành thuế.
Trong hoạt động quản lý, các vấn đẻ vẻ chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiều quản lý là những trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn. Tom lai, quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế; xác lập mỗi quan hệ phối hợp giữa các bộ phân một cách hữu "hiệu trong việc thực thí các chính sách thuế. Cơ quan quản lý thuế thực hiện và thực.