Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu sự hài lòng - Chương 2: Thiết kế nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Téng quan tài liệu nghiên cứu Liên quan đến nội dung trên đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu. Qua nghiên cứu một số đề tài liên quan đến sự hài lòng của khách hàng như: * Tài liệu trong nước: - Đề tài 1: “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng HSBC” của tác giả Đỗ Tiến Hòa Tác giả đã vận dụng quan niệm và mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1988), mô hình SERVPERF (Cron in and Taylor,1992) và mô hình FSQ and TSQ (GrOnroos,1984) để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng HSBC. Mô hình nghiên cứu được thiết lập dựa trên xem xét yếu tố then chốt tác.
đông đến sự hài lòng khách hàng là chất lượng dịch vụ (6 nhân tố: sự hữu hình, phong cách phục vụ, hình ảnh doanh nghiệp, sự tín nhiệm, danh mục phục vụ, tiếp xúc khách hàng) kế tiếp là yếutố giá cả và sau cùng là hình ảnh doanh nghiệp với các tiêu chí và thang đo sử dụng mang tính tổng hợp và được điều chỉnh cụ thẻ. Kết quả hồi quy cho thấy 98.8% sự hài lòng của khách hàng được giải thích bởi 6 thành phần. Hàm hồi quy được viết như sau: Y=-120+0,309 X1 + 0,296 X2 + 0,286 X3 + 0,275 X4 + 0272 X5 + 0,247 X6 Trong đó: XI: Tính cạnh tranh về giá X2: Hình ảnh doanh nghiệp X3: Sự tín nhiệm X4: Sự thuận tiện X5: Phong cách phục vụ X6: Sự hữu hình. Mô hình trên gợi ý cho các nhà quản trị của ngân hàng HSBC trong việc cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng mình.
- Đề tài : “Nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tại AGRIBANK Chỉ nhánh tỉnh Bình Dương” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan và Phương Kim Phụng Hoàng (2011). Nghiên cứu đã áp dụng thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL, phân tích nhân tố, phân tích hồi qui để xác định nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng và đưa ra các giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng khi giao dịch tại ngân hàng. Tuy nhiên, qua phân tích hồi qui, mô hình hồi qui có hệ số xác định là RỶ điều chỉnh là 0.527 tức là 52,7% biến thiên của sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng được xác định bởi 5 biến độc lập trong mô hình, còn lại 47,3% biến thiên chưa được giải thích. - Đề tài :*Nghiên cứu chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Á Châu - CN Đà Nẵng của tác giả Bài Thị Hạnh Mỹ (2013).Mô hình nghiên cứu được thiết lập dựa trên xem xét 7 yếu tố then chốt tác động đến chất lượng dịch vụ là: độ tin cậy, khả năng đáp ứng, thuận.
năng lực phục vụ, đồng cảm, phương tiện hữu hình và giá cả cảm nhận. Kết quả hồi quy: R hiệu chỉnh = 0.534 nghĩa là các biến độc lập của mô. hình giải thích được 53.4% biến phụ thuộc. Qua phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc chất lượng dịch vụ tiêu dùng với 7 biến độc lập được thể hiện phương trình sau: CLDV_CVTD=-0,632 + 0,20SNLPV + 0,185DC + 0,154GCCN + 0,123TC + 0,108DU + 0,107HH + 0.081TT Trong đó: CLDV_CVTD: là chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng NLPV: năng lực phục vụ DC: đồng cảm GCCN: giá cả cảm nhận TC: độ tin cậy DU: khả năng đáp ứng.
HH: phương tiện hữu hình TT: Thuận tiện Nhu vay để nâng cao chất lượng dịch vụ tiêu dùng, ACB Đà Nẵng cần chú trọng đến 3 nhân tố: “năng lực phục vụ”, “đồng cảm”, “giá cả cảm nhận”. Luận văn đã tổng hợp lý thuyết và thực hiện nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng đề từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đáp ứng sự hài lòng khách hàng. Từ những nghiên cứu trên có thể thấy nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng là yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, về vấn đề nghiên cứu sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng tại ngân hàng trên địa bàn Đà Nẵng thì cho đến nay đối với ngân hàng Á Châu CN Đà Nẵng chưa có tác giả nào nghiên cứu, đồng thời nghiên cứu này tác giả sẽ bổ sung thêm biến độc lập vào mô hình giữa chất lượng.
dịch vụ và sự hài lòng để mô hình hồi qui có mức độ phù hợp cao hơn. Đây là lý do để tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Á Châu Chỉ nhánh Đà Nẵng”. * Tài liệu nước ngoài: -Cronin & A. Taylor, (1992), “Measuring Service Quality: A Reexamnination and Extension”, Jounal of Marketing, Vol 56 -Mohammad Rafiqul Islam (2005), context Analysis of Customer satisfaction in services, Master thesis.
Karlskrona Sweden - Oliver (1997), Satisfaction A Bahavioral Perspective on The Consume. (1998), Model of Consumer Satisfaction Formation: An Extension, Journal of Marketing Research - Parasuraman A. (1985), “A conceptual model of service quality and its implications for future research”, Journal of Marketing, Vol. (1988), “SERVQUAL: A Multiple-Item Scale for Measuring Consumer Perceptions of Service Quality”, Journal of Retailing, Vol.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về dịch vụ Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000)thì lịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hang” Theo Philip Kotler va Amstrong (1991)xem dich vu Id moi hoatdéngva kết quả làmột bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yêu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất. Đặc điểm dịch vụ Tính vô hình của dịch vụ: không giống như các sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể cầm, nắm, cân đo, đong đếm một cách cụ thể như những sản phẩm hữu hình khác.
Do tính chất vô hình nên những sản phẩm dịch vụ không thể kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua được. Chỉ có sử dụng dịch vụ thì khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ được chính xác Tỉnh không tách rời được: đặc điểm này cho rằng quá trình cung cấp dịch vụ xảy ra liên tục, nghĩa là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ tiến hành đồng thời, cùng một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian sử dụng. Nếu những hàng hóa hữu hình được sản xuất, lưu kho, phân phốivà sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng cùng lúc và trong suốt quá trình. Tính không đồng nhất, không ồn định: Chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào người thực hiện, thời gian và địa điểm cung cấp.
Chính vì vậy, tổ chức không thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ mình cung cấp. Tính mong manh, không lưu giữ: Chính vì vô hình nên dịch vụ được cho. là rắt mong manh, người cung cấp cũng như người tiếp nhận không thể lưu giữ lại, không thể đem tiêu thụ hay bán ra trong một thời gian sau đó. Tổng quan về dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Dịch vụ cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong. một khoảng thời gian nhất định, với những thỏa thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả.) nhằm giúp cho khách hàng. có thể sử dụng những hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chỉ trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn. Đặc điểm dịch vụ cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân - Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, mọi người kỳ vọng rằng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có khả năng chỉ trả nhiều hơn.
Đồng thời nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về mau ma, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó khuyến khích được nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu thu nhập của người dân không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu vay vì tin tưởng rằng với nên kinh tế lạc quan như vậy, chắc chắn họ sẽ hoàn trả được các khoản vay ngân hàng trong tương lai. Các ngân hàng cũng lạc quan về kinh tế nên sẽ mở rộng quy mô tín dụng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy bắt an, đặc biệt khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng.
~ Ouy mô cho vay tiêu dùng nhỏ. Đối tượng khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình, họ thường vay dé dap ứng nhu cầu tiêu dùng do chưa có đủ khả năng chỉ trả, do vậy vay nhỏ. Hơn nữa, khoản vay tiêu dùng thường có rủi ro cao nên ngân hàng cũng đưa ra giới hạn hạn mức cho vay tiêu dùng đối với khách hàng. ~ Cho vay tiêu dùng ít nhạy cảm với lãi suất.
Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà vay tiêu dùng đem lại nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu dùng hơn chỉ phí trả để có khoản vay đó. Mặt khác, số lượng khoản vay nhỏ, vì vậy số tiền trả định kỳ không quá lớn, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của khách hàng. ~ Chất lượng thông tìn khách hàng cung cấp không cao. Đa phần những thông tin do khách hàng vay tiêu dùng cung cấp thường.
mang tính chủ quan, thu nhập của khách hàng khó chứng minh, việc kiểm chứng kê khai của khách hàng vay cá nhân rất khó khăn cũng như việc kiểm tra thu nhập của khách hàng tốn nhiều thời gian, do vậy việc cho vay tiêu dùng tiềm ẩn những rủi ro cao. - Nguồn trả nợ không ỗn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Thu nhập này có thể thay đổi tùy vào tình trạng sức khỏe, công việc cũng như cơ cấu, chu kỳ của nền kinh tế. Những khách hàng có việc làm, mức.