phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận tổng quan lý thuyết về dịch vụ và sự hài lòng. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân Hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Techcombank. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân Hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam - Techcombank. Chƣơng 4: Kết luận và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân Hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam – Techcombank.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÕNG DỊCH VỤ 1.1 Lý thuyết tổng quan về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ, nhƣng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Tuy nhiên, theo Kotler & Armstrong (2004): “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”.
Thật vậy, dịch vụ là một loại sản phẩm (vô hình): Các ngành dịch vụ tạo ra và cung cấp các sản phẩm dƣới hình thái phi vật thể cho khách hàng. Trong trƣờng hợp này dịch vụ đƣợc xem nhƣ là đối tƣợng của hoạt động kinh tế. Các dịch vụ không tồn tại ở các dạng vật thể hay hàng hoá (hữu hình), những ngƣời tiêu dùng hoàn toàn cảm nhận đƣợc lợi ích và thỏa mãn khi tiêu dùng chúng. Dịch vụ là một loại sản phẩm của lao động khi đƣợc cung ứng trên thị trƣờng, chúng cũng có thuộc tính về giá trị và giá trị sử dụng nhƣ các hàng hoá khác.
Tổng quát chung lại: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ có các đặc trƣng phân biệt so với các loại hàng hoá khác, có nhiều đặc tính rất khác với các loại hàng hóa thông thƣờng nhƣ tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này khiến dịch vụ khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc. Tính vô hình Hàng hoá có hình dáng, kích thƣớc, màu sắc và thậm chí cả mùi vị.
Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngƣợc lại, Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể nhƣ đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” nhƣ sản phẩm vật chất, chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Do vậy, dịch vụ khó bán hơn hàng hoá thông thƣờng.
Tính không đồng nhất Đặc tính này còn đƣợc gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Dịch vụ không thể đƣợc cung cấp hàng loạt, tập trung nhƣ sản xuất hàng hoá. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lƣợng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của ngƣời cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ càng nhiều ngƣời phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lƣợng. Hơn thế nữa, cùng một loại dịch vụ cũng sẽ có nhiều mức độ hoàn thiện từ “cao cấp”, “trung cấp”, “bình dân” hoặc thậm chí ở mức “cơ bản” hơn. Vì vậy, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thƣớc đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan trong các trƣờng hợp cụ thể c. Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ Hàng hoá đƣợc sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu.
Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã là chính phẩm hoàn chỉnh. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Nhƣng quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, giai đoạn sản xuất (production) và giai đoạn sử dụng (consumption) diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất. Ngƣời cung cấp và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch Luan van 9 vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên.
Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Tính không thể cất trữ Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó đƣợc cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trƣờng thì đem ra bán. Chúng ta có thể ƣu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trƣớc sau nhƣng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại.
Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm đƣợc sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Tính không chuyển quyền sở hữu đƣợc Khi mua một hàng hoá, khách hàng đƣợc chuyển quyền sở hữu ngay và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua, cũng nhƣ cho, tặng hoặc chuyển quyền sở hữu cho ngƣời khác. Tuy nhiên với dịch vụ thì khác, khách hàng chỉ đƣợc quyền sử dụng, đƣợc hƣởng lợi ích từ dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Tổng quan về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Định nghĩa Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking, viết tắt là E-Banking) là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc giải thích nhƣ là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản đã đăng ký tại ngân hàng. Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 07 năm 2006: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý dịch vụ được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”.
Luan van 10 Dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử đã và đang áp dụng tại Việt Nam là dịch vụ ngân hàng tại nhà (home- banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone-banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (mobile-banking), trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại (call-center), ngân hàng trên mạng internet (e-banking),. Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dƣới hai hình thức chính: Hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại trên môi trƣờng mạng internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trƣờng mạng và mô hình kết hợp giữa hai hệ thống ngân hàng thƣơng mại truyền thống và điện tử hóa các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này.
Dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện tại với sự phát triển của công nghệ thông tin, các ngân hàng đang cung cấp đến khách hàng rất nhiều loại dịch vụ ngân hàng điện tử. Có thể kể đến nhƣ sau: a. Các dịch vụ ngân hàng điện tử - Ngân hàng qua mạng - Internet banking Internet Banking là một kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua mạng internet. Với dịch vụ này khách hàng chỉ cần một chiếc máy tính hay điện thoại đƣợc kết nối mạng internet mà không cần phải cài đặt bất kì một phần mềm nào mà vẫn có thể giao dịch với ngân hàng vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu mà họ muốn.
Để truy cập khách hàng sẽ đăng nhập theo nhƣ thông tin đƣợc cung cấp và truy cập vào web/app do đơn vị cung cấp. Ngoài ra, khách hàng còn có thể thanh toán trên các trang bán hàng và lựa chọn phƣơng thức thanh toán qua dịch vụ của ngân hàng, hoàn toàn trực tuyến. Internet Banking thực sự đã giúp khách hàng tiết kiệm đƣợc rất nhiều thời gian cũng nhƣ tiền bạc thông qua nhiều tiện ích nhƣ sau: Vấn tin tài khoản, Luan van 11 Chuyển tiền và đặt lệnh thanh toán, Xem các thông tin ngân hàng nhƣ lãi suất, tỷ giá hay tìm kiếm thông tin về một giao dịch cụ thể nào đó, ví dụ: số séc, số tiền và ngày séc đó đƣợc thanh toán…, Thanh toán hoá đơn điện, nƣớc, điện thoại., Gửi yêu cầu dịch vụ nhƣ yêu cầu phát hành séc, sao kê. - Ngân hàng qua mạng di động - Mobile banking Sự phát triển nhanh chóng của các hãng điện thoại di động, nhất là sự xuất hiện liên tục của các dòng điện thoại thông minh (Smart Phone) đã một phần nào đó thúc đẩy dịch vụ mobile banking ra đời.
Đây là một kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ thống mạng điện thoại di động. Nó cho phép bạn thực hiện các giao dịch ngân hàng (vấn tin, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn.) một cách an toàn, chính xác, nhanh gọn ngay trên điện thoại di động của mình mà không mất thời gian đến quầy giao dịch.