Phần mở đầu; + Phần nội dung (bao gồm 03 chương): Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng và thực tiễn thi hành tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Một số kiến nghị về hoàn thiện việc thực thi pháp luật ưu đãi đối với người có công với cách mạng và giải pháp tổ chức thực hiện tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. + Phần kết luận.
11 B- PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Một số khái niệm Khái niệm pháp luật ưu đãi người có công: Việt Nam, trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, với các chế độ chính trị xã hội khác nhau, những quan niệm về con người, xã hội, chính trị,… khác nhau, nhưng có thể khẳng định dù ở bất kỳ thời kỳ nào, giai đoạn lịch sử nào, chế độ nào thì những NCC với đất nước đều được cộng đồng, dân tộc suy tôn. Để bù đắp một phần công lao to lớn đồng thời thể hiện sự biết ơn sâu sắc đối với họ, Đảng và Nhà nước đã luôn có những chính sách ưu đãi đặc biệt. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, chế độ khác nhau đi liền với nó pháp luật đối với NCC cũng khác nhau.
Nhưng xét cho cùng thì pháp luật về ưu đãi đối với NCC là sự ghi nhận những công lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng bất khuất. Gần một thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân dân ta đã chung sức chung lòng quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập tự do”; “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Với tinh thần và quyết tâm ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trước kẻ thù xâm lược.
Và để có được những thắng lợi to lớn ấy, hàng triệu đồng bào, chiến sỹ ta đã phải vượt qua biết bao gian lao, vất vả, hy sinh biết bao xương máu thậm chí cả sinh mạng của mình. Không biết bao nhiêu người đã mất đi người thân, có những người sống đến ngày hôm nay nhưng mang trong mình những vết thương đau đớn, những căn bệnh 12 di truyền, dị tật cho con cháu mình mà mãi mãi không thoát khỏi. Những hậu quả to lớn, những dấu ấn tàn khốc ấy vẫn còn in đậm và dai dẳng mãi trong tâm trí biết bao thế hệ con người Việt Nam. Khi chiến tranh đã đi qua, những đối tượng này và ngay cả người thân của họ đều gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Sức khỏe bị suy giảm, có nhiều người khả năng lao động không còn, theo năm tháng tuổi tác cũng gây ra không ít khó khăn; những di chứng chiến tranh làm cho ý chí, tinh thần phấn đấu, học tập, rèn luyện, làm việc để có thể thích nghi với cuộc sống đang ngày càng phát triển của những con người này trở nên khó khăn và khó hòa nhập hơn. Họ không có điều kiện để chăm lo cho gia đình, con cái, người thân bị thiệt thòi, cuộc sống gia đình bị ảnh hưởng. Đây là những đối tượng cần tới sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội. Những hy sinh, mất mát, cống hiến to lớn của những con người ấy cũng như nhân thân của họ xứng đáng được Nhà nước, xã hội ghi nhận và trợ giúp [20, tr.
Trong giáo trình “Luật An sinh xã hội” của trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với những NCC và gia đình họ” [38, tr. Từ những phân tích trên có thể rút ra được kết luận, pháp luật ưu đãi NCC là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC trên tất cả các lĩnh vực của đời sống [20,tr. Pháp luật ưu đãi NCC là sự thể hiện rõ nhất tính dân tộc, tính xã hội của pháp luật. Pháp luật ưu đãi NCC là công cụ quản lý hữu hiệu mọi mặt đời sống, tinh thần của NCC, giúp phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội và góp phần cho xã hội phát triển bền vững.
Khái niệm thực thi pháp luật về chính sách ưu đãi NCC với cách mạng: Khái niệm pháp luật về chính sách được hiểu là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên 13 những lĩnh vực cụ thể nào đó. Với chính sách công, để đạt được mục tiêu phát triển trước hết chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải hành động thật sự bằng chính sách. Như vậy, sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội. Do vậy, tổ chức thực thi pháp luật về chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nuớc và cũng là để đạt đuợc mục tiêu đã đề ra của chính sách.
Theo Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công của Học viện hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2013 “Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tuợng quản lý nhằm đạt mục tiêu định huớng”. Thực thi pháp luật về chính sách đối với người có công với cách mạng là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của Nhà nước trong chính sách đối với người có công với cách mạng thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng. Nguyên tắc thực thi pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng Nguyên tắc cơ bản của một ngành luật chính là những tư tưởng, quan điểm chủ đạo điều chỉnh, chi phối đến toàn bộ ngành luật đó. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ưu đãi NCC cũng vậy, đó là những tư tưởng chủ đạo điều chỉnh, chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật ưu đãi NCC.
Nội dung các nguyên tắc này được thể hiện qua các quan điểm, Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy, có thể thấy nguyên tắc điều chỉnh Pháp luật ưu đãi NCC gồm năm nguyên tắc cơ bản xuyên suốt toàn bộ hệ thống Pháp luật ưu đãi xã hội của nước ta. Thứ nhất, ưu đãi NCC trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Với trách nhiệm là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước giao cho các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, với nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải đóng vai trò là người lãnh đạo, phát động các phong trào như “Đền ơn đáp nghĩa”, “đi tìm đồng đội”, “Tặng nhà tình nghĩa”… nhằm huy động tối đa sự tham gia, ủng hộ của toàn thể nhân dân vào việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với NCC một 14 cách có hiệu quả nhất, để cho pháp luật ưu đãi NCC được thực thi trong cuộc sống. Thứ hai, thực hiện công bằng, công khai trong ưu đãi xã hội Nguyên tắc công bằng được thể hiện ở sự bình đẳng giữa cùng đối tượng phải được hưởng cùng một loại chế độ ưu đãi như nhau.
Những người chịu sự mất mát, hy sinh, cống hiến như nhau phải được hưởng sự ưu đãi như nhau. Những NCC phải được tạo điều kiện, tạo cơ hội như nhau để hòa nhập với cộng đồng, không có sự phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp. “Sự bình đẳng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ đơn thuần là sự bình đẳng giữa những NCC với nhau mà còn là sự bình đẳng giữa những NCC với các thành viên khác của cộng đồng [37, tr. Thứ ba, xác định các chế độ ưu đãi hợp lý NCC đã có nhiều đóng góp, cống hiến, hy sinh cho đất nước.
Chính vì vậy, họ có thể bị tổn thất về tính mạng, sức khỏe, cuộc sống gặp khó khăn trên nhiều phương diện. Do đó, việc xác định chế độ ưu đãi với các hình thức ưu đãi hợp lý là hết sức cần thiết. Các hình thức ưu đãi phải vừa đảm bảo được cuộc sống vật chất của NCC vừa phải đảm bảo cuộc sống tinh thần cho họ, tạo điều kiện để họ có thể tự lập trong cuộc sống đồng thời hòa nhập vào cộng đồng. Vì vậy, ưu đãi xã hội không chỉ dừng lại ở việc trợ cấp cho những NCC mà còn cần phải có các chế độ ưu đãi khác như việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe… Những chế độ này vừa thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới mọi nhu cầu chính đáng của NCC vừa tạo điều kiện cho họ không chỉ có mức sống ổn định mà còn có điều kiện phấn đấu vươn lên, phát huy truyền thống, tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội.
Đó cũng là mục đích chính của việc thiết lập chính sách ưu đãi NCC [38, tr. Thứ tư, mức ưu đãi phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Tùy từng thời kỳ, tùy thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, Nhà nước cần phải xây dựng, sửa đổi và bổ sung mức trợ cấp, các chế độ ưu đãi sao cho phù hợp với sự phát triển, với thu nhập của cộng đồng dân cư, với chỉ số giá tiêu dùng trong xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng đi lên thì đời sống 15 vật chất cũng như tinh thần của những NCC càng được quan tâm và mức trợ cấp sẽ ngày một tăng lên để phù hợp hơn nhu cầu ngày càng cao của con người. Ở mỗi địa phương, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mình mà địa phương đó sẽ có những chính sách khác nhau ngoài những chính sách chung do Nhà nước đặt ra nhằm cải thiện hơn nữa đời sống vật chất cũng như tinh thần của NCC.