CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ THU HÚT NGUỒN TÀI CHÍNH NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Mục đích của chương này nhằm tổng hợp, phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các lĩnh vực chính sách Nhà nước về thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL, là căn cứ cho nghiên cứu sinh xác định khoảng trống cần nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan tới chính sách Nhà nước trong việc thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL, và tập trung vào những nội dung lớn sau đây: Các nghiên cứu về vai trò của chính sách Nhà nước trong việc thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL Hiện nay, chính phủ các nước đều gặp phải áp lực chi tiêu ngân sách cho nhiều mục tiêu khác nhau như giáo dục, y tế, giao thông. Việc duy trì ngân sách cho giáo dục ĐH là một thách thức đối với các chính phủ (Harman, 1999).
Trong lĩnh vực giáo dục ĐH, bên cạnh áp lực ngân sách đối với chính phủ, việc gia tăng tỷ lệ nhập học, tăng nhanh chi phí đơn vị, hạn chế về mặt quản lý của khu vực công đều góp phần tạo ra áp lực tài chính đối với các trường ĐHCL (NCES, 2001). Dưới áp lực đó, việc tăng cường thu hút các nguồn tài chính từ người học, doanh nghiệp và các nhà tài trợ là rất quan trọng đối với các trường ĐHCL. Nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập tới vai trò của chính sách Nhà nước trong việc thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường công lập. Chính sách Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng cho việc tăng nguồn tài chính từ người học và các tổ chức khác cho các trường ĐHCL (Long, 2004).
Đầu tiên, chính sách của Nhà nước đóng vai trò là khung khổ pháp lý, điều chỉnh các hoạt động tạo nguồn thu của các trường ĐH (Siswanto và cộng sự, 2013). Việc áp dụng các nguyên tắc thị trường đối với giáo dục ĐH, hay việc thị trường hóa giáo dục ĐH của Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ việc thu hút các nguồn TC ngoài NSNN (Brown, 2010). Các nguồn tài chính và các hoạt động thu hút các nguồn tài chính cũng cần sự điều chỉnh 6. của pháp luật thông qua các quy định, điều khoản luật thống nhất, rõ ràng và phù hợp.
Các chính sách Nhà nước cũng tác động đến việc tăng nguồn thu ngoài NSNN của các trường ĐHCL thông qua các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện. Năng lực của các trường ĐH để tạo thêm nguồn thu liên quan mật thiết đến sự hỗ trợ và tạo điều kiện từ khuôn khổ pháp lý mà các trường ĐH tuân theo. Các chính sách công nhận trường ĐHCL có quyền thực hiện các hoạt động khác ngoài chức năng chính là đào tạo và nghiên cứu tạo điều kiện cơ bản để trường ĐHCL có thể chủ động thực hiện các hoạt động đa dạng hóa nguồn tài chính (Etkowiz, 1999 và Paul, 2012). Với một khung luật pháp rõ ràng, thống nhất, và những chính sách Nhà nước nhằm ưu đãi, khuyến khích các hoạt động trao đổi, tạo nguồn thu đối với nhà trường và các đối tượng như người học, doanh nghiệp, các trường ĐHCL sẽ có điều kiện thuận lợi hơn khi thực hiện các hoạt động tăng cường nguồn TC ngoài NSNN.
Các nghiên cứu về chính sách Nhà nước về thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL Chính phủ các nước đã thực hiện nhiều chính sách để các trường ĐH thu hút nguồn TC ngoài NSNN. Các chính sách này thường bao gồm các nhóm chính sách như chính sách tăng cường tính tự chủ, độc lập cho các trường ĐHCL, cho các trường được quyền lựa chọn, quyết định nhiều nội dung quan trọng; chính sách nâng cao tính minh bạch và khuyến khích sự đóng góp vào giáo dục ĐH của nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Những chính sách này đã trở nên phổ biến trong 2 thập kỉ gần đây (OECD, 2003 và Eurydice, 2008). Để tăng cường tính tự chủ, độc lập cho các trường ĐHCL đối với các hoạt động tài chính, chính phủ có thể đưa ra các giải pháp bao gồm: ban hành các điều khoản, quy định liên quan đến các hoạt động về tài chính của trường, đặc biệt là các quy định nâng cao tính tự chủ của các trường ĐH; đưa ra các hình thức ưu đãi, hỗ trợ tài chính từ chính phủ, xây dựng các kênh giao tiếp, tương tác (cung cấp thông tin, trao đổi và tương tác hai chiều, kêu gọi sự tham gia vào các chủ trương trong quản lý tài chính từ các trường ĐH).
Nhiều nghiên cứu cho thấy các chính sách này có thể giúp các trường ĐH tự chủ, năng động hơn trong việc tìm kiếm các nguồn thu; cũng như có được sự tương tác với các đối tác là người học, doanh nghiệp, các tổ chức có nhu cầu sử dụng dịch vụ của nhà trường (Jongbloed, 2005; Paul, 2012 và Guimón, 2013). Việc nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động tài chính của các trường ĐHCL cũng góp phần gia tăng niềm tin của người học và các tổ chức, doanh nghiệp đối với nhà trường. Tính minh bạch luôn đi kèm với tính tự chủ. Khi niềm tin vào uy tín, chất lượng 7.
của nhà trường gia tăng, người học và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ có nhiều động lực để sử dụng các dịch vụ của nhà trường hơn, từ đó nâng cao nguồn thu cho nhà trường (Jongbloed, 2005 và Paul, 2012). Các chính sách nâng cao tính minh bạch trong trường ĐHCL bao gồm thực hiện kiểm soát bằng việc kiểm tra và chấp thuận các chiến lược của nhà trường, tạo ra cơ chế quản lý và báo cáo về tình hình ngân sách và kết quả hoạt động của nhà trường (Eurycide, 2008). Để khuyến khích sự đóng góp của xã hội đối với giáo dục ĐH, các chính phủ cũng đưa ra chính sách khuyến khích các hình thức quyên tặng của cựu học sinh, các nhà hảo tâm v. đối với trường ĐHCL (Jaramillo và Melonio, 2011; Estermann và cộng sự, 2011; Guimón, 2013).
Chính sách này có thể bao gồm việc giảm thuế thu nhập cho người quyên tặng hay khấu trừ thuế cho các khoản đóng góp, quyên tặng. Đây là một chính sách quan trọng trong việc huy động các nguồn lực từ xã hội tham gia đóng góp vào sự phát triển của giáo dục ĐH. Bên cạnh các chính sách nâng cao tính tự chủ, tính minh bạch và khuyến khích đóng góp, chính sách Nhà nước về tăng cường thu hút các dòng tiền cho các trường ĐHCL còn bao gồm hỗ trợ, và tạo ra các cơ chế để các trường ĐHCL tạo thêm được nguồn thu từ chính nguồn ngân sách, các sản phẩm nghiên cứu và dịch vụ của nhà trường. Ở nhiều nước, các cơ quan quản lý cho phép các trường ĐHCL dự trữ tích lũy từ nguồn tài chính từ ngân sách, định mức học phí, huy động trên thị trường tài chính (Estermann và Nokkola, 2009).
Năng lực của các trường ĐHCL để tạo thêm thu nhập liên quan mật thiết đến sự hỗ trợ và tạo điều kiện từ khuôn khổ pháp lý mà các trường ĐH tuân theo (Estermann và Pruvot, 2011). Chính sách cần hỗ trợ các trường, tạo cơ chế và các phạm vi điều chỉnh, căn cứ vào thực tiễn và có sự thay đổi theo những biến động tại mỗi địa phương (John và Rodney, 2011). Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, do đặc thù của trường ĐH là nơi sản sinh ra tri thức và nghiên cứu ra các công nghệ mới, nên một nguồn thu rất tiềm năng của các trường ĐH là từ việc chuyển giao công nghệ, tri thức và thương mại hóa các sáng chế, phát minh (Saul và Mark, 2003; Risaburo, 2005; Cheslock và Hughes, 2011). Các chính sách về sở hữu trí tuệ, bản quyền và các khuyến khích tài chính sẽ tác động đến số lượng và giá trị tăng thêm của các phát minh và sáng tạo tại các trường ĐHCL.
Điều này giúp cho các trường thu hút được nguồn tài chính từ việc thương mại hóa các phát minh và sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tri thức từ các phòng thí nghiệm, các trung tâm nghiên cứu cho chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác (Saul và Mark, 2003). Chính sách tín dụng cũng rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và các trường ĐH. Chính sách tín dụng củng cố một phần tài chính cho các dự án hợp tác, phát triển của trường ĐH và doanh nghiệp. Các chính sách hỗ trợ 8.
này có thể dưới dạng những gói tài trợ trọn gói, các khoản vay không lãi suất hay lãi suất thấp cho trường ĐH (Risaburo, 2005). Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích các trường thu hút nguồn TC ngoài NSNN, trong nhiều trường hợp, các chính sách Nhà nước cũng tạo ra một số rào cản. Một số rào cản từ khung khổ pháp lý đối với việc đa dạng hóa thu nhập của các trường ĐH là cấu trúc quản lý không đầy đủ và không có khả năng thay đổi, hạn chế tài chính ảnh hưởng đến chu kỳ nguồn vốn, hoặc các quy định biên chế cứng nhắc cản trở các trường ĐH trong việc khai thác tiềm năng và phát triển các dòng vốn mới (Estermann và Pruvot, 2011). Các nghiên cứu đánh giá các chính sách Nhà nước về thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL Các nghiên cứu nước ngoài cũng có nhiều đánh giá về chính sách Nhà nước về thu hút nguồn TC ngoài NSNN cho các trường ĐHCL dựa trên tính hiệu quả, quyền lợi của các đối tượng tham gia vào hoạt động tạo nguồn TC ngoài NSNN, tính bền vững, tính linh hoạt và tính công bằng của chính sách (Etkowiz, 1999; Yokoyama, 2006; Orkodashvili, 2007; Estermann và Pruvot, 2011; Paul, 2012; Pelletier, 2012; FCCI, 2013).
Các nghiên cứu nhận định chính sách Nhà nước có tính hiệu quả cao khi đã hỗ trợ các trường tăng nhanh nguồn thu, ví dụ như chính sách thu hút sinh viên quốc tế, xuất khẩu dịch vụ giáo dục được khuyến khích ở các nước tiên tiến như Anh (có hơn 500.000 sinh viên quốc tế học tập để lấy bằng của các trường ở nước Anh), Mỹ (đem lại 24 tỷ USD từ sinh viên nước ngoài) (Paul, 2012 và Pelletier, 2012). Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với các trường ĐH của Trung Quốc giúp các trường ĐHCL tại Trung Quốc có nguồn thu tăng hơn 200% so với những năm trước (Etkowiz, 1999).