CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Giáo dục sau phổ thông Giáo dục sau phổ thông bao gồm giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Giáo dục đại học bao gồm các hình thức giáo dục diễn ra ở các cơ sở học tập bậc sau trung học, cuối khóa học thường được trao văn bằng học thuật hoặc cấp chứng chỉ. Các cơ sở giáo dục đại học không chỉ bao gồm các trường đại học và viện đại học mà còn các trường chuyên nghiệp, trường sư phạm, trường cao đẳng, trường đại học công lập và tư thục hệ hai năm, và viện kỹ thuật.
Điều kiện nhập học căn bản đối với hầu hết các cơ sở giáo dục đại học là phải hoàn thành giáo dục trung học, và tuổi nhập học thông thường là khoảng 18 tuổi. Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được đào tạo theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Suất sinh lời của giáo dục Đầu tư cho giáo dục về bản chất cũng là một hình thức đầu tư, trong đó đầu tư cho giáo dục đem lại cho người học vốn nhân lực – giúp nâng cao năng suất lao động và do đó cải thiện thu nhập. Giáo dục cũng cung cấp vốn tri thức cho con người, giúp nâng cao chất lượng văn hóa của cuộc sống.
Trong đó các nghiên cứu về suất sinh lời của giáo dục chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế của đầu tư cho giáo dục, hay nói cách khác, quan tâm đến suất sinh lời của đầu tư cho giáo dục. Suất sinh lời của giáo dục được bao gồm lợi suất ròng của cá nhân và lợi suất ròng của xã hội [54]. Lợi suất ròng cá nhân= lợi ích cá nhân (ví dụ: thu nhập cao hơn, nguy cơ thất nghiệp thấp) - chi phí cá nhân (ví dụ: học phí và sách vở, thu nhập bị từ bỏ). Lợi suất xã hội ròng= lợi ích công cộng (ví dụ: thu nhập từ thuế cao hơn, giảm các khoản chi phí chuyển khoản xã hội) – chi phí công (ví dụ: bỏ thuế thu nhập, tăng chi cho giáo dục).
Đo lường suất sinh lời của giáo dục Tuy định nghĩa về suất sinh lời của giáo dục là khá rõ ràng, nhưng việc đo lường nó một cách trực tiếp lại là vấn đề khó khăn. Thứ nhất, giáo dục có ảnh hưởng đến thu nhập không chỉ trong 1 năm mà kéo dài suốt cuộc đời của người lao động, nên việc tính toán trực tiếp ảnh hưởng này là điều hầu như không thể thực hiện được. Thứ hai, việc tính toán lợi suất xã hội luôn là vấn đề khó khăn khi tính toán mọi suất đầu tư, bao gồm cả đầu tư giáo dục. Vì vậy, các nghiên cứu thực nghiệm về lợi suất đầu tư cho giáo dục tập trung đánh giá tác động của giáo dục lên mức lương của người lao động sau khi đã kiểm soát các yếu tố có ảnh hưởng lên mức lương.
Cơ sở lý thuyết của luận án 1. Lý thuyết về đầu tư trong giáo dục – Mô hình Mincer Có thể nói đầu tư cho giáo dục cũng là một dạng đầu tư, trong đó con người chi tiền ra đầu tư với mục đích thu được lợi ích cho hiện tại và tương lai. Lợi ích này có thể bao gồm nhiều khía cạnh: gia tăng hiểu biết làm cho cuộc sống phong phú, có được danh tiếng trong xã hội, ., nhưng có lẽ quan trọng nhất vẫn là lợi ích kinh tế. Do đó nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm đánh giá suất sinh lời của đầu tư cho giáo dục.
Và các nghiên cứu này thường được dựa trên lý thuyết về đầu tư cho giáo dục, được đề xuất bởi Mincer (Mincer, 1958, 1974). Trong lý thuyết này, lợi suất của đầu tư cho giáo dục được mô hình hóa dựa trên bài toán tối ưu hàm lợi ích của các cá nhân. Mô hình Mincer dạng cơ bản có thể được trình bày thành hai phần như sau: phần thứ nhất, sử dụng xuất phát điểm là bài toán tối ưu hàm lợi ích phổ dụng, trong đó người tiêu dùng tối ưu hóa hàm lợi ích của mình thông qua tiêu dùng, sau đó chuyển thành bài toán tối ưu trong đầu tư cho giáo dục. Phần thứ hai sẽ dựa trên bài toán tối ưu đầu tư cho giáo dục để xây dựng hàm số cho lợi suất của đầu tư cho giáo dục này.
Phần 1: từ bài toán tối ưu phổ dụng sang bài toán quyết định đầu tư cho giáo dục Giả sử một người lao động sẽ lao động đến T tuổi, khi đó anh ta sẽ chọn hàm tiêu dùng c(t) sao cho cực đại hàm lợi ích toàn đời như sau: luan an 9 T V = ∫ u( c(t ))e − rt dt (1.) là hàm lợi ích, thỏa mãn các giả thiết thông thường, là hàm tăng chặt và lõm, r là tỷ lệ chiết khấu thời gian. Vốn nhân lực, ký hiệu là h(t) tuân theo phương trình sau: h(t ) = f (t , h(t ), s (t )) (1.3) Trong đó w(t) là mức lương trả cho một đơn vị lao động cơ bản. Người lao động được giả sử rằng chỉ được tiêu dùng trong giới hạn của thu nhập: T T ∫ u (c(t ))e dt ≤ ∫ w(t )(1 − s(t ))h(t )e dt (1.4) − rt − rt 0 0 Sử dụng định lý tách, có thể chứng minh được rằng (https://econ.uk/staff/spischke/ec533/Acemoglu%20Autor%20chapter%2 01.pdf) nghiệm của bài toán (1.4) cũng chính là nghiệm của bài toán: tìm s để cực đại hóa hàm: T Maxs ∫ w(t )(1 − s (t ))h(t )e − rt dt (1.5) 0 Với các ràng buộc (1.4) Kết quả này cho phép chuyển từ bài toán tối ưu tiêu dùng thành bài toán tối ưu cho giáo dục. Phần 2: Xây dựng hàm toán học cho lợi suất đầu tư cho giáo dục Giả sử s(t) =1 trong một khoảng thời gian S, và bằng 0 ngoài khoảng đó.
Và sau đó thì người lao động sẽ nhận được một lượng vốn nhân lực m(S), trong đó m là hàm tăng, khả vi liên tục và lõm. Giả sử vốn nhân lực của người lao động thay đổi (nhờ lao động) theo công thức: h(t ) = g h .6) luan an 10 Và lương thay đổi theo công thức: w(t ) = g w .7) Trong đó gh và gw là các hàm dương nào đó.7), bài toán cực trị (1.5) có thể chuyển thành: m( S ) w(0) S .8) r − gh − gw Do m(S) là hàm lõm, điều kiện cần bậc nhất cũng chính là nghiệm tối ưu duy nhất cho bài toán (1.10) Lấy logarit hai vế của (1.10) và thay vào (1.9) ta có: log(TN (t )) = c + (r − g w ) S * + g h (t − S *) + g wt (1.11) cho thấy mối quan hệ giữa học vấn và thu nhập từ lao động, là phương trình cơ bản để xác định lợi suất cho học vấn của người lao động, chính là mô hình Mincer, là mô hình nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm về lợi suất của học vấn. Lý thuyết phát tín hiệu trên thị trường lao động Lý thuyết thông tin bất đối xứng cho rằng có sự mất cần bằng thông tin giữa người mua và người bán, dẫn đến sự không hiệu quả ở một số thị trường nhất định. Ba nhà kinh tế có sự ảnh hưởng đặc biệt trong việc phát triển lý thuyết thông tin bất đối xứng là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz.
Akerlop (1973) lần đầu tiên chỉ ra sự bất cân xứng thông tin bằng minh họa cho thị trường ô tô, trong đó người mua xe nhìn thấy thông tin khác với người bán, tạo cho người bán một động lực bán những chiếc xe có chất lượng thấp hơn mức trung bình của thị trường. Michael Spence (1973) chỉ ra rằng có sự thông tin bất đối xứng trên thị trường lao động, người sử dụng lao động không chắc chắn về năng lực của người lao động khi được tuyển dụng. Ông so luan an 11 sánh tình huống này như việc mua xổ số, và để làm rõ thông tin người lao động sẽ phát tín hiệu về năng lực của mình đến người sử dụng lao động. Lý thuyết phát tín hiệu Trong việc xây dựng lý thuyết tín hiệu, Spence (1973) đã sử dụng thị trường lao động để mô hình hóa chức năng phát tín hiệu của giáo dục.
Người sử dụng lao động tiềm năng thiếu thông tin về chất lượng của những ứng cử viên công việc. Do đó những ứng viên sử dụng giáo dục để phát tín hiệu về chất lượng của họ đến người sử dụng và làm giảm thông tin bất đối xứng. Đây có lẽ là tín hiệu xác thực vì các ứng cử viên có chất lượng thấp sẽ không thể chịu đựng được những khắt khe của giáo dục đại học. Mô hình của Spence đi ngược với lý thuyết vốn nhân lực vì ông coi trong vai trò của giáo dục để tăng năng suất lao động và tập trung sử dụng giáo dục như một phương tiện truyền thông của các đặc tính khác không quan sát được của ứng cử viên công việc.
Kirmani và Rao (2000) cung cấp ví dụ tổng quát giúp minh họa cho mô hình cơ bản tín hiệu. Giống như hầu hết các ví dụ về tín hiệu, tác giả phân biệt hai thực thể: doanh nghiệp chất lượng cao và doanh nghiệp chất lượng thấp. Các doanh nghiệp trong ví dụ này biết rõ về chất lượng của mình, và các nhà đầu tư và khách hàng thì không, do đó mỗi doanh nghiệp có cơ hội để đưa tín hiệu hoặc không đưa tín hiệu về chất lượng thật của mình đến với nhà đầu tư và khách hàng. Khi doanh nghiệp chất lượng cao đưa ra tín hiệu, họ sẽ nhận được sự hoàn lại A, khi họ không đưa tín hiệu họ nhận được sự hoàn lại B, đối với doanh nghiệp chất lượng thấp họ nhận được sự hoàn lại C khi đưa tín hiệu, và sự hoàn lại D khi họ không đưa tín hiệu.
Tín hiệu báo hiệu một chiến lược khả thi đối với các công ty chất lượng cáo khi A>B và khi D>C. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chất lượng cao sẽ thúc đẩy để phát tín hiệu và các doanh nghiệp chất lượng thấp thì không dẫn đến sự cân bằng tách biệt. Trong những trường hợp như vậy các nhà đầu tư, khách hàng có thể phân biệt chính xác giữa các doanh nghiệp chất lượng cao và thấp.