CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM THÔNG QUAĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC CÓ THỜI HẠN Ở NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn lao động và nguồn nhân lực * Người lao động: Điều 3 của Luật lao động 2012 Việt Nam quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. * Nguồn lao động: “Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động không kể đến trạng thái có tham gia lao động hay không”[5, tr.
Nguồn lao động gồm lực lượng lao động và những người có khả năng lao động nhưng chưa có nhu cầu làm việc (người thất nghiệp; học sinh, sinh viên trong tuổi lao động đang học tập; người làm nội trợ gia đình; bộ đội;…). Luật lao động Việt Nam quy định, giới hạn độ tuổi lao động với nam từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi. * Nguồn nhân lực: Theo PGS.TS Nguyễn Tiệp thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào, bao gồm những người trong và trên độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực biểu hiện theo số lượng và chất lượng.
Về số lượng là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động của họ. Về chất lượng là bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ và phẩm chất của NLĐ. Như vậy, mối quan hệ giữa nguồn lao động và nguồn nhân lực đó là ngoài nguồn lao động, nguồn nhân lực còn gồm những người trên độ tuổi lao động có khả năng lao động. 8 * Lực lượng lao động: Theo ILO thì đó là một bộ phận của nguồn lao động gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động có tham gia lao động (đang có việc làm) trong các ngành của nền kinh tế quốc dân và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm, tham gia vào quá trình lao động.
Tại Việt Nam thì lực lượng lao động bao gồm cả người ở trên độ tuổi lao động thực tế đang làm việc trong các ngành kinh tế. Việc làm Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động sản xuất của mỗi người lao động. Nếu lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất của con người nói chung thì việc làm là hoạt động lao động cụ thể của mỗi NLĐ tham gia vào quá trình lao động xã hội chung đó. * Việc làm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
Điều 9, Luật lao động 2012 Việt Nam ghi rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy, hoạt động được coi là việc làm nếu nó đáp ứng được: Đó là một hoặc các hoạt động của con người, không bị pháp luật ngăn cấm và phải đem lại lợi ích cho NLĐ (mang lại thu nhập một cách trực tiếp (đối với cá nhân NLĐ) hoặc gián tiếp (tạo ra thu nhập cho gia đình hoặc cho xã hội)). Việc làm là hoạt động được thể hiện ở một trong ba hình thức sau: Thứ nhất, công việc để NLĐ nhận tiền công hoặc tiền lương bằng tiền mặt hay hiện vật từ NSDLĐ. Thứ hai, công việc để NLĐ thu lợi nhuận cho mình mà bản thân họ có quyền sử dụng hoặc sở hữu tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.
Thứ ba, công việc làm cho hộ gia đình mình nhưng NLĐ không được trả thù lao cho công việc đó, bao gồm: sản xuất nhà nước trên ruộng đất do 9 một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc thành viên trong hộ làm chủ. Ở đây, nội dung của việc làm được mở rộng và cho thấy khả năng to lớn để giải quyết việc làm cho nhiều người. NLĐ được tự do hành nghề; tự do liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu. * Phân loại việc làm − Theo trạng thái biểu hiện, việc làm chia ra: Việc làm đầy đủ: Việc làm đầy đủ là việc làm cho phép NLĐ có điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo quy định.
Theo hướng dẫn điều tra của Bộ LĐTB-XH thì người đủ việc làm là những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có số giờ nhỏ hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định [2, tr. Số giờ làm việc có thể thay đổi theo năm hoặc thời kỳ. Thiếu việc làm:Thiếu việc làm là tình trạng việc làm không tạo điều kiện cho NLĐ sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu. Người thiếu việc làm gồm những người có việc làm mà trong tuần tham chiếu làm việc dưới 35 giờ đối với tất cả các công việc đã làm và hưởng thu nhập rất thấp từ việc làm đó khiến họ có mong muốn làm việc thêm giờ (muốn làm thêm việc để tăng giờ; muốn thay công việc đang làm bằng công việc khác để thêm giờ; muốn tăng giờ của một trong các công việc đang làm), và sẵn sàng làm việc thêm giờ [1, tr.
Họ thường là lao động nông thôn, lao động ở khu vực sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, lao động ở khu vực nhà nước dôi dư. Như vậy, thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp, còn gọi là bán thất nghiệp. 10 * Người có việc làm: Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, ILO đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. Tại Việt Nam, đó là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước đó tính đến thời điểm điều tra: Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền, hiện vật; Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình; Đã có công việc trước đó song trong tuần lễ trước điều tra tạm thời không làm việc và sẽ tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ.
Thất nghiệp * Khái niệm thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành. Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội. Nói đến thất nghiệp là nói đến sự khó khăn cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia. Vì vậy cần phải tính toán sao cho mức tỷ lệ thất nghiệp hợp lý với trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
* Người thất nghiệp: Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH) quy định Người thất nghiệplà người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc, tính đến thời điểm điều tracó đi tìm việc trong 4 tuần lễ hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua vì không biết tìm ở đâu hoặc tìm mãi không được, chờ việc,…; Hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng giờ làm việc dưới 8h/ngày, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc [5, tr. Tạo việc làm * Tạo việc làm cho người lao động Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu thì Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Do vậy, tạo việc làm là quá trình tạo các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu thị trường[5, tr. Về cơ bản, tạo việc làm bao hàm các hoạt động: tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất (biểu hiện rõ nhất là vốn); tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động (số lượng phải phù hợp, chất lượng phải nâng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường); hình thành môi trường để kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất (gồm hệ thống các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách thu hút lao động,.); thực hiện các biện pháp để duy trì việc làm ổn định và có hiệu quả cao (biện pháp về quản lý điều hành, về khai thác các nguồn lực, về NLĐ và NSDLĐ,.
Từ các hoạt động trên sẽ tạo ra những chỗ làm việc mới giúp NLĐ chưa có việc làm có được việc làm; tạo thêm việc làm cho những NLĐ đang thiếu việc làm và cũng như là giúp NLĐ tự tạo việc làm. Nói chung, tạo việc làm là một quá trình, còn việc làm là kết quả của quá trình ấy. * Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có: NSDLĐ là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho NLĐ, bao gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội. Họ phải có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động, công nghệ, kinh nghiệm và thông tin về thị trường đầu vào, đầu rađể sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ.
Ngoài ra họ cũng cần có kinh nghiệm, hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, không chỉ tạo ra mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc. 12 NLĐ cần có sức khoẻ, trình độ, kinh nghiệm phù hợp với công việc của mình. Để có việc làm được trả công theo ý muốn thì họ luôn phải học hỏi, trau dồi kiến thức để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.