phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách Nhà nƣớc và quản lý thu ngân sách Nhà nƣớc. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thu ngân sách Nhà nƣớc tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. - Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách Nhà nƣớc tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Quản lý NSNN có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trƣởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội và nó càng quan trọng hơn khi nguồn lực ngân sách bị thiếu hụt nhƣng đòi hỏi công tác quản lý NSNN phải hiệu quả. Vì vậy, vấn đề quản lý NSNN trở thành đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều đề tài nghiên cứu cấp bộ, sở ban ngành, sách chuyên khảo, luận văn, luận án… của các học giả trong và ngoài nƣớc.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu điển hình về quản lý NSNN đã đƣợc công bố nhƣ: Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương” của tác giả Phạm Đức Hồng, Trƣờng Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2002. Xuất phát từ mục tiêu mở rộng quy mô huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, tác giả luận án cho rằng việc phân cấp ngân sách là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, việc phân cấp ngân sách cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Trên cơ sở đó, tác giả luận án xem xét thực tế phân cấp ngân sách ở nƣớc ta hiện nay, chỉ ra những ƣu điểm và hạn chế; từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế trong phân cấp ngân sách ở nƣớc ta.
Luận án thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách tỉnh Kiên Giang” của tác giả Văn Tuấn Kiệt, năm 2008. Trong luận văn này, tác giả đã xây dựng khung khổ lý thuyết về quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh và sử dụng khung khổ này để phân tích hoạt động quản lý NSNN tỉnh Kiên Giang; chỉ ra những ƣu khuyết điểm chủ yếu trong hoạt động này. Từ đó, luận văn đƣa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN của tỉnh. 4 z Lê Thị Thu Thủy, 2010.
“ Một số vấn đề về phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010) tr. Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý NSNN, phân tích và đánh giá thực trạng công tác phân cấp quản lý NSNN ở nƣớc ta và kết luận yêu cầu cấp thiết phải quản lý NSNN. Ngân hàng thế giới, 1996. "Vietnam Fiscal Decentralization and Delivery of Rural Services," In, 220 p.
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1996, 2005) cho thấy phân cấp ngân sách có ảnh hƣởng tích cực tới quá trình xóa đói giảm nghèo. Ngân hàng thế giới, 2001. "The Vietnam Public Expenditure Review 2000," In. Ngân hàng thế giới và - CHXH CN Việt nam, 2005.
Vietnam Management Public Expenditure for Poverty Reduction and Growth Public Expenditure Review and Integrated Fiduciary Assessment Hanoi: Edition Politique Nationale. Nguyễn Phi Lân, Phạm Hồng Chƣơng, 2008. Phân cấp quản lý tài khóa và tăng trưởng kinh tế Việt nam – Tạp chí Kinh tế Phát triển số 12/2008. Tác giả cho rằng trong công tác quản lý thu, chi ngân sách, xử lý bội chi NSNN, quản lý nợ công là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành, tuy nhiên, tác giả cũng chỉ khái quát những giải pháp khắc phục chung chung.
Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thuế TNDN, của tác giả Phan Thị Thanh Dƣơng - Khoa Luật Thƣơng Mại, Trƣờng Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Đăng tải trên website http://www. Trong đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của Luật thuế TNDN, đi sâu, làm rõ chi tiết từng nội dung mà Luật chƣa đề cập đến, đề ra những giải pháp hoàn thiện cho phù hợp với thực tế đòi hỏi. 5 z Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý: “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” của Vũ Thị Mai (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005), nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt đƣợc, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình đổi mới từ 1990 đến nay.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam từ năm 2010. Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Chiến lược cải cách hệ thống chính sách thuế, phí giai đoạn 2011 - 2020” của TS. Đề tài tập trung phân tích những ƣu điểm và đặc biệt là những bất cập của hệ thống chính sách thuế, phí Việt Nam trƣớc năm 2010 và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới hệ thống chính sách thuế, phí cho giai đoạn 2011 - 2020. Luận án tiến sĩ “Sử dụng công cụ chính sách tài chính để phát triển nền kinh tế trong quá trình hội nhập” của tác giả Lê Công Toàn, Trƣờng Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2003.
Luận án bàn về chính sách tài chính với tƣ cách là công cụ quản lý nền kinh tế, Nhà nƣớc có thể và cần phải sử dụng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Luận án đã chỉ ra những ƣu, nhƣợc điểm của chính sách tài chính Việt Nam và đƣa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện công cụ kinh tế quan trọng này. Nhìn chung, các đề tài và tài liệu trên đều có đề cập ở những mức độ nhất định về Quản lý thu NSNN. Tuy nhiên, chƣa có công trình khoa học nào dƣới dạng luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về đề tài Quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa hiện nay ở góc độ Quản lý kinh tế.
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế. 6 z Điều đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn đề mới đang đặt ra, vừa khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đặc thù của huyện để công tác quản lý thu ngân sách Nhà nƣớc có hiệu quả hơn. Cơ sở lý luận về ngân sách Nhà nƣớc và quản lý thu ngân sách Nhà nƣớc. Ngân sách Nhà nước và thu NSNN 1.
Ngân sách Nhà nước, đặc điểm và chức năng của NSNN * Khái niệm NSNN NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Khái niệm chung về ngân sách nhƣ sau: Xét trên phƣơng diện nội dung bên trong có thể coi “Ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở Luật định” [4, tr.53] Luật NSNN của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”[12, tr. NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc. Quỹ này thể hiện lƣợng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nƣớc, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động.
Mặt tĩnh, thể hiện các nguồn tài chính đƣợc tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định đƣợc vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động, thể hiện các quan hệ phân phối dƣới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phƣơng của nền kinh tế quốc dân. * Đặc điểm của NSNN 7 z Thứ nhất, quy mô quỹ NSNN và các hình thức thu, chi NSNN đều bị quyết định bởi quy mô, tốc độ, chất lƣợng phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Hay nói cách khác, sự phát triển kinh tế sẽ là cơ sở cho sự hình thành nguồn thu của NSNN; sự phát triển của xã hội về cơ bản sẽ đặt ra những đòi hỏi về nhu cầu chi của NSNN, song các nhu cầu này chỉ có khả năng đáp ứng khi kinh tế có sự phát triển.
Thứ hai, các quan hệ phân phối của NSNN chủ yếu dựa trên nguyên tắc không hoàn trả một cách trực tiếp. Cần nhận thức rõ đặc điểm này để lựa chọn và áp dụng các biện pháp trong quản lý thu, chi và phân cấp NSNN cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời gian cụ thể. Thứ ba, sự vận động và phát triển của NSNN luôn phải có kế họach hóa một cách cao độ. Nền tảng cho việc kế họach hóa NSNN là các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nƣớc đề ra cho các khoảng thời gian khác nhau từ ngắn hạn đến dài hạn.
Thứ tư, công khai, minh bạch luôn là yêu cầu đòi hỏi phải đáp ứng trong quá trình quản lý NSNN. Ở đâu làm tốt đƣợc công khai, minh bạch ngân sách thì ở đó công tác xã hội hóa huy động nguồn thu ngân sách sẽ đạt tốt và chi tiêu ngân sách sẽ ít bị thất thoát, lãng phí. * Chức năng của NSNN - Chức năng phân phối Phân phối NSNN không chỉ dừng ở khâu phân phối thu nhập mà bao gồm cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ các nguồn lực tài chính cho các đối tƣợng sử dụng. Đối tƣợng phân phối của NSNN là các nguồn lực tài chính do thu nhập quốc dân mới sáng tạo thuộc các thành phần kinh tế cùng với các khoản vay, mƣợn của Chính phủ, gắn với việc hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc trong quá trình thực hiện chức năng phân phối.