CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN 1. Tổng quan về tập đoàn kinh tế. Sự hình thành Quá trình ra đời và phát triển của các tập đoàn trên thế giới gắn liền với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản. Quá trình hình thành của các tập đoàn kinh tế là sự phát triển khách quan, đáp ứng đòi hỏi tích tụ và tập trung tư bản.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự thay đổi trong hình thức tổ chức kinh doanh và làm xuất hiện các kiểu liên kết tập đoàn. Từ khoảng thế kỷ 18, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, các công ty cần tăng thêm nhiều vốn để mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, quá trình tích tụ và tập trung tư bản tạo thành những tổ hợp lớn diễn ra mạnh mẽ nhất từ những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Một số công ty đa quốc gia hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển.
Hàng loạt các công ty lớn được hình thành trên cơ sở sáp nhập hoặc thôn tính lẫn nhau để trở thành những tập đoàn lớn mạnh. Các tập đoàn kinh tế được hình thành theo các phương thức sau: - Hình thành tập đoàn kinh tế do mở rộng quy mô sản xuất và chia nhỏ công ty: Phương thức hình thành tập đoàn này dựa trên sự mở rộng quy mô của công ty tiến tới tách ra thành một số công ty hoạt động trên một số lĩnh vực nhất định. Giữa các công ty mới được thành lập và công ty ban đầu (công ty mẹ) tồn tại các mối liên kết kinh tế - tài chính chặt chẽ. Nhiều tập đoàn của Nhật Bản được hình thành theo phương thức này.
- Hình thành tập đoàn do sự liên kết sáp nhập tự nhiên. z Đây là con đường hình thành các tập đoàn kinh tế đầu tiên trong lịch sử. Một số công ty có những mối liên hệ nhất định về thị trường, sản phẩm, nguyên liệu hoặc công nghệ tự nguyện liên minh lại theo kiểu Cartel hay Trust. Trong quá trình phát triển, nhiều tổ chức Cartel, Trust đã tan vỡ nhưng cũng nhiều tổ chức đã được cơ cấu lại và phát triển.
Với sự tham gia hoặc sáp nhập tự nguyện, trong những năm thế kỷ 18 – 19 đã hình thành nên các tập đoàn kinh tế. Quá trình tập trung sản xuất, tập trung vốn đã góp phần đẩy nhanh quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế. Quá trình này diễn ra theo những phương thức khác nhau: hoặc bằng con đường thôn tính theo kiểu cá lớn nuốt cá bé thông qua việc mua lại các công ty nhỏ yếu hơn, biến chúng thành một bộ phận không thể tách rời của công ty mẹ; hoặc bằng con đường tự nguyện sáp nhập với nhau thành một công ty lớn hơn, chống lại nguy cơ bị thôn tính, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Ở các nước công nghiệp hoá đi sau, các tập đoàn kinh tế được hình thành và phát triển chủ yếu bằng tích tụ và liên doanh nhằm tăng nhanh vốn, khả năng sản xuất và khả năng chuyển giao công nghệ nước ngoài, khả năng cạnh tranh nhằm chống lại nguy cơ bị các công ty nước ngoài thôn tính.
Điển hình như ở Hàn Quốc, Thái Lan, các tập đoàn kinh tế tự lớn lên nhờ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tốt. Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế. Đặc trưng về cơ cấu tổ chức. Tập đoàn kinh tế là một liên kết của nhiều pháp nhân có tổ chức phức tạp, có nhiều hình thức đa dạng, tuỳ thuộc vào thời kỳ phát triển, đặc điểm kinh tế xã hội và đặc trưng của từng tập đoàn.
Sự liên kết của các thành viên trong tập đoàn có những đặc điểm sau: - Các thành viên trong tập đoàn là các công ty hoạt động trong cùng một ngành liên kết với nhau trong một liên kết ngang. Sự liên kết này thường dẫn tới hệ quả là một tập đoàn có thể nắm giữ một tỷ trọng thị phần lớn về thị trường của ngành mà nó hoạt động, dễ dàng khống chế, điều tiết các xu hướng phát triển của ngành đó. và cũng dễ dẫn tới sự độc quyền. z - Các thành viên trong tập đoàn là các công ty, tổ chức hoạt động trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất sản phẩm.
Các thành viên vừa là người cung cấp vừa là người tiêu thụ sản phẩm của các thành viên khác trong tập đoàn. Ví dụ về hình thức liên kết này là một công ty sản xuất/lắp ráp máy tính hợp nhất với một công ty sản xuất chíp máy tính (một bộ phận cần thiết của bộ xử lý máy tính). - Các thành viên trong tập đoàn hoạt động trong các lĩnh vực/ngành không có mối quan hệ với nhau về công nghệ, thị trường. Sự liên kết đa ngành mang lại cho các tập đoàn một số thuận lợi sau: Lợi ích kinh tế về quy mô (economies of scale).
Tuy các hoạt động kinh doanh của các thành viên không có mối quan hệ với nhau nhưng nó vẫn mang lại những lợi ích nhất định chẳng hạn như: các thành viên của tập đoàn có thể sử dụng kinh nghiệm quản lý của các thành viên khác trong một số lĩnh vực như kỹ thuật, marketing. hoặc các thành viên có thể chia sẻ, sử dụng cơ sở, tài sản của các thành viên khác trong tập đoàn mà không làm phát sinh chi phí của tập đoàn nói chung. Quy mô lớn của tập đoàn cũng tạo lợi thế trong kinh doanh chẳng hạn làm tăng quyền lực của tập đoàn trong mối quan hệ với người cung cấp. Lợi thế thứ hai là đa dạng hoá hoạt động.
Bằng việc kết hợp các doanh nghiệp trong nhiều ngành khác nhau giúp cho tập đoàn đa dạng hoá được hoạt động của mình đảm bảo tránh rủi ro, đặc biệt trong điều kiện các ngành kinh doanh đều phát triển theo chu kỳ. Khi một hoạt động của một ngành này giảm sút thì hoạt động ở các ngành khác sẽ làm giảm nhẹ ảnh hưởng giảm sút đó. Sự liên kết đa ngành thường tạo ra các tập đoàn lớn nên làm giảm mối đe doạ bị thôn tính bởi các tập đoàn khác. Ngoài ra sự hợp nhất đa ngành còn mang lại cho các tập đoàn những thuận lợi khác chẳng hạn sự liên kết đa ngành giúp các tập đoàn phát triển mà vẫn tránh được sự vi phạm về độc quyền do không khống chế thị phần tối đa của một ngành nghề cụ thể nào.
Đồng thời nó cũng mang lại khả năng tài chính to lớn giúp các tập đoàn có khả năng mua với giá rẻ các công ty đang gặp khó khăn z để sau đó bán đi thu lợi khi giá cổ phiếu của các công ty đó tăng lại trên thị trường. Sự hợp nhất đa ngành cũng làm tăng ảnh hưởng về mặt kinh tế chính trị của tập đoàn trên thương trường. Cho dù hình thức tổ chức tập đoàn rất đa dạng, nhưng chúng thường có các đặc điểm chung như sau: Cơ cấu tổ chức nhiều tầng. Các thành viên có các mối liên kết nhất định với nhau.
Thường có một hạt nhân đóng vai trò chủ đạo. Thường các thành viên là những pháp nhân độc lập và vì vậy tập đoàn là một liên hợp pháp nhân. Về mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn. Thành viên trong tập đoàn là các công ty (thường gọi là công ty con) mà phần lớn hoặc toàn bộ cổ phiếu (sở hữu) của công ty do công ty khác nắm giữ (công ty mẹ).
Công ty mẹ là công ty sở hữu đa số hoặc toàn bộ cổ phiếu của công ty khác và tham gia tích cực vào hoạt động quản lý của công ty con. Các công ty mẹ không chỉ nắm giữ và quản lý các công ty khác mà nó còn có thể có hoạt động riêng của mình. Đôi khi cũng có những công ty mẹ chỉ tồn tại với mục đích duy nhất là đầu tư vào các công ty con và mục tiêu của công ty mẹ loại này là đầu tư chứ không có hoạt động riêng của mình. Hình thức tổ chức của tập đoàn kinh tế.
Trên thực tế có nhiều cách thức phân loại các tập đoàn kinh tế khác nhau. Căn cứ vào hình thức biểu hiện và tên gọi trong thực tế. Theo cách phân loại này, các tập đoàn kinh tế có các hình thức chủ yếu như: Cartel, Syndicate, Trust, Consortium, Concern, Conglomerate, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia,v.v… - Cartel là loại hình tập đoàn kinh tế được hình thành bởi sự liên kết của các công ty hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên cơ sở là các thoả thuận kinh tế như: thống nhất về giá cả, sản lượng, tiêu chuẩn z sản phẩm; phân chia thị trường đầu vào, thị trường tiêu thụ sản phẩm… nhằm mục tiêu hạn chế sự cạnh tranh. Trong Cartel, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý còn tính độc lập về kinh tế bị hạn chế bởi các hợp đồng kinh tế.
Hình thức Cartel thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty trở nên khốc liệt, với mô hình Cartel chỉ hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy, ngày nay ít tồn tại hình thức tập đoàn này. - Syndicate là một dạng đặc biệt của Cartel. Theo đó, trong tập đoàn dạng Syndicate có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty thành viên đều phải tiêu thụ hàng hoá của chúng qua kênh của văn phòng tiêu thụ này.
Với mô hình này, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại. - Trust là tập đoàn kinh tế, được hình thành bởi sự liên minh độc quyền của các tổ chức sản xuất kinh doanh là các doanh nghiệp công nghiệp. So với tập đoàn kinh tế theo hình thức Syndicate, các công ty thành viên của Trust có sự liên kết chặt chẽ hơn, như các nhà tư bản tham gia Trust thành cổ đông. Hoạt động của Trust do một ban quản trị thống nhất điều hành, các công ty tham gia Trust bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại.
Việc thành lập Trust nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư.