CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CÔNG TÁC KIEM SOÁT CHI THƯỜNG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO. BẠC NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1.1 Ngân sách nhà nước và chỉ thường xuyên NSNN qua KBNN 1. Khái quit về Ngân sách nhà nước “Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" có từ lâu và ngày nay được ding phổ bign trong đời sống kinh tế - xã hội và được diễn đạt đưới nhiều sóc độ khác nhan. Song quan niệm NSNN được bao quát nhất cá về lý luận và thực tiễn của nước ta hiện nay.
LLL Khái niện Theo Luật ngân sách nhà nước số: 83/2015/QHI3 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 thì Mgân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chive năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [11] Như vậy so với Luật NSNN 2002 thì đã Khái niệm igin sách nhà nước năm 2017 có đã có sự thay đối về thời an thực hiện trong một khoản thời gian nhất định chứ không. phải một năm như trước đây. Ngân sách nhà nước xét về phương diện kinh tế: Trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học. Theo đó, Ngân si ích nhà nước là bảng dự toán vỀ các Khoản thu và các khoản chỉ tễn tế của một quốc gia.
được cơ quan Nhà nước có thẳm quyền quyết định thực hiện tong một khoảng thời hạn nhất định, thường là một năm. Ngân sách nhà nước xét theo phương diện pháp lý: Theo phương. này, ngân sách nhà nước cũng không có nhiều sự khác biệt so với kinh tế, nó đều nói về các khoản. thu, chỉ do cơ quan nhà nước có thim quyén quyết định và được thực hiện trong một năm, Còn ở phương diện pháp lý, Ngân sách nhà nước được hiễu là một đạo luật đặc biệt của mỗi quốc gia, do quốc hội ban hành và chính phủ thực hiện trong một thời hạn xác định.
Nhưng khác với những đạo luật thông thường, Ngân sách nhà nước được cơ {quan lập pháp tạo ra theo trình thự, thủ tục riêng và hiệu lực thi hành của đạo luật này được xác định trong một khoản thời gian nhất định 1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính. Có vị trí quan trong trong nên kinh thị trường. Vai tro của ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thé của nó trong tưng giai đoạn đảm bao cho Nhà nước thực hiện các chúc năng, nhiệm vụ và duy r quyền lực 1a Nhà nước, Trong giai đoạn hiện nay ngân sich nhà nước đóng vai tr là công cụ điều hành vĩ mô nin kinh tế, Nhà nước đồng vai trở chủ thể thường xuyên, chủ thể quyển lực trong quan hệ giữa Nhà nước ngân sich nhà nước. Điều dé cho thấy Nhà nước tập trung ngân sich, coi ngân sách là công cụ kinh tế quan trong để giải quyết các vin đề kinh tế ~ xã hội và thị trưởng.
Ngân sách kích thích sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh hợp pháp, chống độc quyền (qua các công cụ về thuế và cho ra đời các Doanh nghiệp nhà nước.) Nain sich nhà nước cũng cắp nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở hạ ng, các ngành kinh tế then chốt, tạo môi trường cho các Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển. Như vậy vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường là rit quan trong. La trực tiếp hay gián tip nhưng ngân sách nhà nước vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong điều hành kính tẾ vĩ mô nền kinh tế, khắc phục những huyết tật của nền kinh thị trường, 11.3 Bản chất của Ngân sách nhà nước [Nain sich nhà nước không th thiểu được với mỗi Nhà nước, Cho nên Nhà nước luôn luôn là chủ thé thưởng xuyên vả chủ thé quyển lực trong các khoản thu và phân phối sắc nguồn tải chính. Trong mỗi quan hệ giữa ngân sich và Nhà nước để thực hiện qua trình phân phối, lợi ích mi Nhà nước hướng tới chủ yếu là các lợi ch về kính tế, Do đó bản chất của ngân sich là hệ thống các mối quan hệ về kinh t phát sinh trong quả trình Nhà nước huy động và sử dung các nguồn tii chính, nhằm đảm bảo yêu.
Âu thực hiện các chức năng quán lý và điều hành nén kinh tế - xã hội của mình. Bản chất của ngân sách nhà nước quyết định các chức năng của ngân sách nhà nước. Chúc năng của Ngân sách Nhà nước Khi nói tới chức năng của sự vt là những phương diện hoạt động chủ yếu của sự vật thể hiện bản chất của nó và đảm bảo cho sự vật đồ tôn tại. Chức năng và nhiệm vụ là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau.
Nhiệm vụ là những vẫn để đặt ra cần gii quyết, còn chúc năng là phương điện hoạt động có tính định hướng lầu dài. Thông các nhiệm vụ được đặt ra nhằm thục hiện chức năng, Mat yêu cầu đặt ra khử nhà nước ra đời là phải thống nhất các khoản thu chỉ trên co ở dự toán và hạch toán, Do đồ ngân sich nhà nước phải tập hợp và cắn đi thụ chỉ của Nhà nước, bắt buộc mỗi khoản chỉ phải theo dự toán, mỗi khoán thu phải theo luật đinh, chm đứt sự uỹtiện trong quản lý thu chỉ của Nhà nước, Như vậy tac thể kết luận chức năng của Ngân sách nhà nước theo các nhiệm vụ sau - Huy động nguồn tải chính và dim bảo các nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch nhã nước. ~ Thực hiện cân đối giữa các khoản thu - chi (bing tiễn) của Nhà nước.5 Nội dung Chỉ Ngân sách nhà nước. Theo Luật NSNN năm 2015 Chỉ ngân sách nhà nước bao gồm: = Chỉ đầu we phát triển; - Chi dự trữ quốc gia; - Chi thường xuyên; trả nợ lãi, - Chỉ viện trợ; khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật Tuỷ thuộc vào vai trở của Nhà nước trong quản lý chính tị, kinh t,x hội ở mỗi thỏi kỷ lịch sử mà chỉ NSNN có những nội dung và cơ cấu khác nhau.
Do tỉnh chất đa dang và phong phú của các khoản chỉ nên việc phân loại nội dung chỉ NSNN đẻ giúp cho. công tác quản ý cũng như định hướng chỉ NSNN là rit cần thế. Phân loại các khoản chỉ NSNN là việc sắp xếp các khoản chỉ NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chỉ. Cụ thể như: ~ Theo mục dich KT-XH của các khoản chỉ: chỉ NSNN được chia thành chỉ tiêu dùng và chỉ đầu tư phát trí “Theo tinh chất các khoản chỉ: chỉ NSN được chia thành chi cho tẾ: chỉ giáo đục: chi phúc li: chỉ quản lý nhà nước; chỉ đầu tư kinh tế ‘Theo chức năng của Nhà nước: chỉ NSNN được chia thành chỉ nghiệp vụ và chỉ phát triển.
~ Theo tính chất pháp lý: chỉ NSNN được chia thành các khoản chi theo luật định; các khoản chỉ đã được cam kết, các khoản chỉ có thể điều chính. ~ Theo yếu tổ các khoản chi: chỉ NSNN được chia thành chỉ đầu tư; chỉ thường xuyên và chỉ khác.2 Khải niệm Chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước qua KBNN Chi thường xuyên là nhiệm vụ chỉ của ngân sách nhà nước nhằm bảo dim hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các ổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát tiễn kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an inh “Chỉ thường xuyên phản ánh quá tình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước, Xét về tính chất kinh tế, chỉ thường xuyên của NSNN bao gồm các khoản chỉ lương, phụ cấp lương, chỉ hàng hoá và dich vụ phát sinh thường xuyên của Nhà nước. Nội dung, đặc điểm của chỉ thường xuyên NSNN qua KBNN 1.1 Nội dụng của chỉ thường xuyên “Chỉ thường xuyên của Nhà nước liên quan đến nhiễu lĩnh vực, có thể khái quát một số lĩnh vực chiểm tỷ trọng lớn như: chỉ quản lý hành chính, chỉ sự nghiệp kinh tế, chỉ sự nghiệp giáo dục đảo tạo, chỉ sự nghiệp văn hoá xã hội, chỉ sự nghiệp y tế, chỉ an ninh. quốc phòng, “Chỉ thường xuyên của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phần cấp trực tgp quản lý tong các lĩnh vực: Theo Luật NSNN 2015 Chi thường xuyên cho các lĩnh vực - Quốc phòng, ~ An ninh và trật tự, an toàn xã hội; Sự nghiệp giáo đục- đào tạo và dạy nghề: - Sự nghiệp khoa họ và công nghệ, = Sự nghiệp y tế đân số và gi đnh; - Sự nghiệp văn hóa thông tin; ~ Sự nghiệp phấ thanh, truyền hình, thông ấn; Sự nghiệp thé dy thể thao; ~ Sự nghiệp bảo vệ môi trường; + Các hoạt động kinh tế, - Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên doin lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hỗ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt "Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việc Nam, Hội Nông dân Việt Nam; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính tị xã hội~ nghề nghiệp, chức xã hội, tổ chúc xã hội - nghề nghiệp.
theo quy định của pháp luật, + Chỉ bảo đảm xã hội, bao gồm cả chí hỗ rợ thực hiện các chính sách sã hội heo quy định của pháp luật, - Các khoản chỉ thường xuyên khác theo quy định của pháp luật. Đặc diém của chỉ thường xuyên Chỉ thường xuyên là những khoản chỉ mang tính liên tục. Xuất phát từ sự tồn ti của bộ máy Nha nước, từ việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội đã làm nảy. sinh các khoản chỉ thường xuyên và đồi hỏi phi tạ lập nguồn lực tải chính thường xuyên để trang trải các khoản chỉ nảy.
Trong quá trình cân đổi NSNN thi nguồn tải trang trải nhu cầu chỉ thường xuyên à nguồn thủ từ thuế, phí, - Chỉ thường xuyên mang tiêu dùng.