Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội thành lập để cung cấp dịch vụ công, phục vụ cho việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. Những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn.
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 đưa ra khái niệm: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” Cũng theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 đã đề cập đến các đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Chủ yếu là các Viện nghiên cứu, Bệnh viện, Trường học…. trực thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập Theo điều 2 của Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 thì: “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con Luan van 5 dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp y tế công lập Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ thì đơn vị sự nghiệp y tế công lập có những đặc điểm cụ thể như: “Thứ nhất: Đơn vị sự nghiệp y tế công lập do Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thể do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp ra quyết định thành lập thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.
Do vậy, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập phải tuân theo cơ chế và quy định của các cơ quan Nhà nước và cơ quan chủ quản. Thứ hai: Đơn vị sự nghiệp y tế công lập cung cấp dịch vụ công cho xã hội không nhằm mục đích sinh lời trực tiếp. Dịch vụ công được cung ứng với mục đích đáp ứng lợi ích chung và lâu dài cho xã hội. Việc cung ứng dịch vụ này không nhằm mục đích sinh lời.
Thông qua các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, Nhà nước cung cấp những sản phẩm khám chữa bệnh, phòng dịch bệnh… nhằm thực hiện định hướng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các đơn vị sự nghiệp y tế được phép thu các loại phí, lệ phí, viện phí trong lĩnh vực y tế để đáp ứng một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị, đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích các đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Thứ ba: Các hoạt động do đơn vị sự nghiệp y tế thực hiện thường mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Luan van 6 Hoạt động sự nghiệp công chủ yếu tạo ra các “hàng hóa công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội.
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mang hai tính chất không cạnh tranh và không loại trừ, mọi người đều có khả năng sử dụng và không ai có thể gây ảnh hưởng đối với việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ công cộng của người khác. Hàng hóa công cộng có tính xã hội, vì vậy việc sử dụng những sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp công tạo ra nền tảng và động lực cho kinh tế, văn hóa, xã hội… phát triển. Do vậy hoạt động sự nghiệp công luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất của xã hội. Thứ tư: Hoạt động sự nghiệp công luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước.
Các đơn vị sự nghiệp y tế công lập hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, Bộ chủ quản. Chính phủ tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp là để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình sức khỏe sinh sản, chương trình phòng chống HIV/AIDS… Để các chương trình này đi vào cuộc sống, Nhà nước thông qua các đơn vị sự nghiệp công lập để triển khai thực hiện.” Nói chung, đặc điểm của đơn vị y tế công là được Nhà nước thành lập để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, đảm bảo và chăm lo sức khỏe cộng đồng. Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế công lập Theo điều 3 của Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 thì Đơn vị sự nghiệp y tế được đăng ký và phân loại theo các nhóm sau đây: Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển.
Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. Luan van 7 Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên. Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ. Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp y tế được ổn định trong thời gian 03 năm, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Trường hợp đơn vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại trước thời hạn. Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên được xác định theo công thức: Mức tự bảo đảm chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp phí hoạt động thường = 100 Tổng số chi hoạt động thường xuyên xuyên của đơn vị (%) 1. Vai trò đơn vị sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường vai trò của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được thể hiện trên một số điểm sau: - Đơn vị y tế công lập thực hiện chức năng chủ yếu là khám chữa, điều trị cho các bệnh nhân nhằm đảm bảo chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho toàn thể người dân. Từ đó, giúp nâng cao chất lượng nhân lực góp phần phục vụ tốt nhất cho các hoạt động kinh tế xã hội.
- Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường an sinh xã hội trong toàn dân. Song hành cùng Nhà nước để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ trong hoạt động khám chữa bệnh cho các đối tượng người dân còn nhiều khó khăn chưa có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế như: người nghèo, đối tượng chính sách… - Thông qua hoạt động của mình, các đơn vị y tế công lập đã góp phần hỗ trợ cho các đơn vị y tế tư nhân cùng thực hiện cung cấp dịch vụ y tế càng ngày càng có chất lượng cao hơn cho người dân. Từ đó ngày càng phát triển hệ thống y tế trong toàn xã hội đóng góp lớn cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của ngành y tế. Luan van 8 - Cùng các đơn vị dịch vụ, sản xuất kinh doanh khác thì các đơn vị y tế công lập có những đóng góp lớn cho NSNN.
Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm về tài chính và quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm về tài chính Theo Giáo trình Tổ chức, quản lý và chính sách y tế của Nguyễn Duy Luật (2006) đã đưa ra: “Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng dưới hình thức giá trị các nguồn vật chất xã hội. Thông qua đó các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và được sử dụng để tái sản xuất và thỏa mãn nhu cầu đời sống của các cá nhân và cộng đồng.” Theo báo cáo “Tự chủ tài chính bệnh viện.
Thực trạng, hiệu quả sử dụng và những biện pháp” của Phạm Trí Dũng (2009) chỉ ra rằng: “Tài chính trong các bệnh viện là phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các bệnh viện. Xét về hình thức, nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ bằng tiền. Xét về bản chất, nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục vụ cho sự nghiệp chữa bệnh cho CBVC và nhân dân của đất nước.