CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 1. Các hình thức hợp tác đầu tư trong ngành TD&KTDK 1. Những đặc trưng cơ bản về hoạt động thăm dò, khai thác Dầu khí Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí là hoạt động sản xuất công nghiệp, song không giống như các hoạt động sản xuất công nghiệp chế tạo hay chế biến thông thường, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, ngành công nghiệp TD&KTDK là ngành mang tính tổng hợp và đa dạng cao. Chuỗi các hoạt động TD&KTDK bao gồm khâu đầu (thượng nguồn), khâu giữa (trung nguồn).
Thượng nguồn bao gồm các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí. Khâu này sử dụng tổng hợp tri thức và công nghệ các chuyên ngành địa chất, địa vật lý, địa hóa, khoáng sản, khoan khai thác v.v… Khâu giữa bao gồm các hoạt động vận chuyển, tàng trữ dầu khí. Khâu này liên quan đến các công nghệ về đường ống, tàu chứa (trên biển) bồn chứa, cầu cảng v.v… Thứ hai, công nghiệp TD&KTDK là ngành đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, rủi ro cao, nhưng mang lại lợi nhuận rất lớn. Chi phí đầu tư tìm kiếm, thăm dò thường rất lớn, có khi lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ, nhất là trên Biển.
Nếu việc tìm kiếm thăm dò không mang lại kết quả thì số tiền bỏ ra đầu tư là mất trắng. Nhiều rủi ro tiềm tàng trong các hoạt động khoan, khai thác, vận chuyển dầu khí là rất lớn, và nếu một khi sự cố xảy ra thì tổn thất vô cùng lớn lao. Vì vậy, trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, các doanh nghiệp thường liên kết với nhau để tận dụng nguồn vốn, chia sẽ rủi ro. 123doc 5 Khi đã phát hiện dầu khí có tính thương mại, họ tiến hành khai thác càng nhanh càng tốt để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra.
Thứ ba, công nghiệp TD&KTDK là ngành công nghệ cao thuộc ngành công nghiệp nặng, tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực thăm dò, khoan, xây dựng cơ bản, khai thác dầu khí đã có nhiều bước nhảy vọt. Có thể nói, ngành dầu khí trên thế giới là một trong những ngành đang sở hữu và sử dụng những công nghệ hiện đại nhất, tiên tiến nhất trong tất cả các lĩnh vực, đồng thời là ngành đang dẫn đầu trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ ngày càng tiên tiến hơn. Thứ tư, công nghiệp dầu khí là một ngành mang tính quốc tế cao. Khác với hoạt động khai thác than đá, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối sản phẩm dầu khí đã nhanh chóng mang tính toàn cầu và không ngừng có những liên kết kiểu công ty đa quốc gia.
Trong quá trình phát triển, để san sẻ rủi ro và bảo đảm lợi nhuận ổn định, ngoài việc liên minh, liên kết trong các hợp đồng phân chia sản phẩm, hầu hết các công ty dầu khí có chiến lược phát triển theo mạng đầu tư nhiều nơi, trên nhiều nước và tổ chức theo nhiều chiều, nghĩa là hoạt động dầu khí được triển khai toàn bộ ở các khâu từ thăm dò, khai thác đến vận chuyển, chế biến…Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, dầu khí là một trong những ngành đi đầu trong việc hợp nhất các công ty lớn xuyên quốc gia. Gần đây, trong quá trình thực hiện hợp đồng phân chia sản phẩm, một số quốc gia sở hữu tài nguyên dầu khí nhận thấy rằng cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào các công ty đa quốc gia, nên đã tiếp cận trực tiếp với ngành công nghiệp này, và đảm bảo an ninh năng lượng cho mình. Theo xu hướng đó, các công ty dầu khí quốc gia ra đời. Quá trình chuyển giao công nghệ trong ngành dầu khí từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã diễn ra mạnh mẽ.
Nhờ vậy mà các quốc gia ngày càng tham gia tích cực hơn 123doc 6 vào thị trường dầu khí thế giới. Nhiều công ty quốc gia đã tiến hành có hiệu quả việc đầu tư ra các nước khác. Tính quốc tế của các hoạt động dầu khí còn được thể hiện ở chỗ, do công nghệ cao và mang tính chất chuyên nghành sâu, hầu như mọi công ty không thể tự mình thực hiện toàn bộ chuỗi công việc. Từ đó nó đòi hỏi sự liên doanh liên kết, hợp tác trong hoạt động dầu khí , tạo ra sự phân công lao động giữa các quốc gia và các công ty.
Thứ năm, Loại hình doanh nghiệp họat động trong lĩnh vực dầu khí cũng đa hình thức sở hữu, vì vậy về cơ bản nó bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Hình thức hợp tác đầu tư trong hoạt động TD&KTDK TD&KTDK là hoạt động khai thác tài nguyên trên lãnh thổ, lãnh hải của một quốc gia, để đảm bảo nguyên tắc về quyền sở hữu tài nguyên, chủ quyền của một quốc gia, các quốc gia trên thế giới đều qui định các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí phải thông qua ký kết hợp đồng dầu khí với công ty dầu khí quốc gia của mỗi nước. Hiện nay, các nước trên thế giới thường áp dụng ba hình thức hợp đồng dầu khí phổ biến là: Hợp đồng đặc nhượng, hợp đồng phân chia sản phẩm và hợp đồng liên doanh. Hợp đồng đặc nhượng.
Hình thức hợp đồng dầu khí nằm trong hệ thống đặc nhượng, các công ty dầu khí được quyền sở hữu một diện tích khai thác dầu khí và có nghĩa vụ phải nộp cho nước chủ nhà các khoản thuế, các khoản phụ thu khác đã được qui định. Đối với loại hợp đồng này, các công ty được tự chủ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, đựợc hưởng toàn bộ thành quả sản xuất của mình, đồng thời chịu mọi rủi ro trong quá trình hoạt động. Loại hợp đồng này 123doc 7 thường được áp dụng ở các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển và có hệ thống pháp luật tiên tiến, ổn định. Hợp đồng phân chia sản phẩm.
Hình thức hợp đồng mà trong đó có các điều khoản mang tính nguyên tắc, quy định quyền sở hữu quốc gia về tài nguyên dầu khí, qui định khung thuế suất của các loại thuế, lệ phí, qui định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ các bên, của nước chủ nhà và nhà thầu…Các nhà thầu được phép đàm phán và thỏa thuận các điều kiện về kinh tế, tài chính, chế độ kế toán, các cam kết và các quyền lợi của mình. Trên cơ sở tài nguyên và tiềm năng dầu khí, nước chủ nhà định ra các khoản thu theo luật định, phần thu của nước chủ nhà và phần thu của nhà thầu. Công ty dầu khí quốc gia có quyền giám sát các hoạt động dầu khí và mọi khoản chi theo ngân sách mà các nhà thầu đã cam kết trong hợp đồng. Trong hợp đồng này, các doanh nghiệp dầu khí phải bỏ vốn ra, chịu mọi rủi ro ở giai đoạn tiềm kiếm và thăm dò, nước chủ nhà chỉ quyết định góp vốn trong giai đoạn khai thác công nghiệp, việc góp vốn chỉ thực hiện ghi trong hợp đồng, thực tế là các công ty dầu khí phải ứng vốn ra cho nước chủ nhà.
Vốn góp được tính từ giai đoạn thăm dò, tỷ lệ vốn góp, thời gian hoàn vốn cũng như tỷ lệ lợi tức tùy theo đàm phán giữa hai bên được ký kết trong hợp đồng. Hợp đồng này được áp dụng chủ yếu ở các nước Đông nam á và Mỹ la tinh. Hợp đồng liên doanh. Hợp đồng liên doanh trong lĩnh vực dầu khí có tính đặc thù; có thể chia hợp đồng liên doanh thành hai loại, gồm: Hợp đồng liên doanh điều hành chung và hợp đồng liên doanh thành lập pháp nhân mới.
Hợp đồng liên doanh điều hành chung là loại liên doanh mà trong đó một bên tham gia được cử ra để thay mặt các bên khác điều hành các hoạt động được ghi rõ trong hợp đồng. Các bên trong liên doanh có trách nhiệm 123doc 8 góp vốn theo tỷ lệ thỏa thuận, được nhận lợi tức, cũng như gánh chịu mọi rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Tuy nhiên, theo hình thức liên doanh này, các bên tham gia không thành lập pháp nhân mới mà mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách chủ thể riêng rẽ của mình, tất cả các quyền và nghĩa vụ tương ứng như độc lập bán sản phẩm được chia, và thực hiện việc nộp thuế cũng như các nghĩa vụ tài chính khác cho nước chủ nhà. Với tính chất đơn giản của loại hình liên doanh này nên nó được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp dầu khí của các quốc gia trên thế giới.
Hợp đồng liên doanh thành lập pháp nhân mới là hợp đồng được ký kết giữa một bên là công ty dầu khí quốc gia, với một bên là công ty dầu khí khác nhằm thành lập doanh nghiệp liên doanh để tiến hành các hoạt động dầu khí. Vốn của liên doanh được hình thành trên cơ sở vốn góp của các bên tham gia. Quyền và nghĩa vụ của liên doanh cũng như của các bên tham gia được giới hạn trong phạm vi vốn góp. Sau khi thành lập doanh nghiệp, liên doanh trở thành pháp nhân mới, hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn với mục đích thu lợi nhuận từ dầu khí và thực hiện các nghĩa vụ thuế, tài chính khác cho nước chủ nhà.
Quản trị tài chính doanh nghiệp thăm dò và khai thác dầu khí 1.1 Mục tiêu và nguyên tắc quản trị tài chính doanh nghiệp. Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quyết định tài chính gồm có 3 loại chính: Quyết định đầu tư; tài trợ và phân phối. Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp.
Quản trị tài chính có vai trò rất quan trọng và hiện hữu trong tất cả các doanh nghiệp, mục tiêu của quản trị tài chính là một trong những mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá tài sản doanh nghiệp hay là tối đa hóa 123doc 9 giá trị doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi ích cho cổ đông.