Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quản trị tài chính doanh nghiệp xây dựng trong quân đội. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị tài chính doanh nghiệp xây dựng trong quân đội. Chương 3: Thực trạng về quản trị tài chính của doanh nghiệp xây dựng trong quân đội. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản trị tài chính của các doanh nghiệp xây dựng trong quân đội.
luan an 6 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG QUÂN ĐỘI 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU 1.1 Lý thuyết chung về quản trị tài chính doanh nghiệp Các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu rất nhiều vấn đề về QTTCDN thể hiện trong các sách chuyên khảo và tham khảo đã được xuất bản. Cụ thể: Các tác giả Việt Nam như Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền (2011) [20] và Phạm Văn Vạng, Phạm Thị Tuyết (2011) [66]) đều cho rằng QTTC là một nội dung của quản trị kinh doanh DN. QTTCDN là việc nghiên cứu, quản trị các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của DN để từ đó đưa ra được các quyết định tài chính và thực hiện các quyết định đó, phù hợp với mục tiêu của DN. Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu QTTC với nội dung là một phần nhỏ trong lĩnh vực rộng là quản trị kinh doanh nên nội dung nghiên cứu của các tác giả mới chỉ dừng lại ở khái niệm, vai trò, nguyên tắc chứ chưa đi sâu phân tích các nội dung QTTC.
Trong cuốn Giáo trình Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân [59], tác giả Phạm Quang Trung (2011) khẳng định QTTC là một trong những chức năng quản lý cơ bản và quan trọng nhất, có vai trò quyết định hiệu quả hoạt động và sự phát triển của một DN. Từ đó, tác giả đưa ra những nội dung lý thuyết cơ bản nhất về quản lý tài sản, huy động vốn, phân bổ vốn, phân tích báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các lý thuyết này mới chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản nhất, dành cho sinh viên đại học. Tác giả Lê Văn Khâm (2009)[31] và Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Thị Mỹ Hương (2014) [34], cho rằng QTTC là việc nghiên cứu, phân tích để đưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động tài chính trong DN nhằm đảm bảo đạt hiệu quả SXKD tốt nhất.
Điểm khác biệt với tác giả Phạm Quang Trung (2011) và một số tác giả khác, Lê Văn Khâm (2009) còn quan tâm thêm nội dung xử lý các vấn đề tài chính khi tổ chức lại và phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác giả Lê Văn Khâm (2009) chưa phân tích sâu và rõ hơn về tầm quan trọng của QTTCDN, không đề cập đến mục tiêu riêng cần đạt được của QTTC trong mối quan hệ ràng buộc với các hoạt động quản trị kinh doanh luan an 7 khác. Cũng giống như Phạm Quang Trung (2011), các nội dung kiến thức về QTTC mà tác giả đưa vào giáo trình mới dừng lại ở kiến thức cơ bản nhất. Nhóm tác giả Lê Thị Hằng và cộng sự (2012)[21] cũng đồng ý với tác giả Lê Văn Khâm (2009) rằng: QTTC là việc đưa ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả tài chính của DN.
Nhưng khác với tác giả Lê Văn Khâm (2009), nhóm tác giả Lê Thị Hằng và cộng sự (2012) thì phân tích rõ vai trò, đánh giá đúng tầm quan trọng của QTTCDN. Đó là: QTTC không giống với các hoạt động quản trị khác. Nó có vai trò quan trọng trong hoạt động SXKD của DN. Nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của DN trong quá trình kinh doanh.
Tuy nhiên, các nội dung mà nhóm tác giả đề cập không thấy có sự phân biệt giữa đầu tư dài hạn và đầu tư ngắn hạn trong DN. Thêm nữa, nội dung QTTC theo cách nhóm tác giả trình bày thì khá rộng, chồng chéo đến nhiều vấn đề của quản trị kinh doanh. Trong cuốn Tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính [44], nhóm tác giả Bùi Hữu Phước và cộng sự (2009) đưa ra khái niệm “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành các quỹ tiền tệ ở các DN để phục vụ quá trình SXKD”. Cũng theo tác giả, “tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của DN”.
Hình thái vật chất của các quỹ bằng tiền này có thể là nhà cửa, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền,… Vậy, có thể hiểu rằng tất cả những gì thuộc DN mà có thể biểu hiện bằng tiền là tài chính doanh nghiệp. Từ đó, tác giả cho rằng QTTC là sử dụng các quỹ bằng tiền này để đạt được mục tiêu của DN và chủ sở hữu DN. Mục tiêu đó thông thường là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế, tối đa hóa lợi nhuận phân phối cho chủ sở hữu, tối đa hóa giá trị DN. Ba mục tiêu này không đồng nhất với nhau, tùy từng giai đoạn mà DN lựa chọn mục tiêu thích hợp.
Nhìn chung, các tác giả trên mới chỉ trình bày các kiến thức cơ bản nhất về QTTC có thể áp dụng cho mọi loại hình DN thích hợp làm tài liệu tham khảo bậc học đại học. Đặc biệt, bên cạnh việc trình bày các kiến thức, nội dung về QTTC, nhóm tác giả Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn (2019) [26] có đề cập đến lý luận chung về mô hình Tập đoàn kinh tế và khái quát về cơ chế tài chính trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam. Tác giả Phan Duy Minh (2010) [39] và nhóm tác giả Ngô Thị Ngọc Huyền và Nguyễn Thị Hồng Thu (2009) [22] lại đi sâu vào QTTC gắn với đặc điểm hoạt động của các công ty đa quốc gia, có nhiều chủ thể tham gia, nhiều chính sách chế độ khác luan an 8 nhau. QTTC không chỉ tuân thủ các chế độ, chính sách chung của công ty mà còn phải tuân thủ các chế độ, chính sách, luật pháp của các quốc gia mà nhiều khi các chế độ, chính sách này rất khác nhau.
Có rất nhiều tác giả nước ngoài hệ thống hóa và viết về lý thuyết QTTC như: Các tác giả Eugene F. Brigham và Joel F. Các tác giả trình bày rất nhiều vấn đề căn bản của QTTC từ khái niệm, mục đích, vai trò của QTTC đến việc phân tích các báo cáo tài chính, dòng tiền và thuế, phân tích thị trường tài chính, huy động vốn, đầu tư tài sản, đầu tư tài chính, phân phối lợi nhuận, chính sách cổ tức, lập kế hoạch, dự báo tài chính, quản trị rủi ro,… cùng một số chủ đề đặc biệt như phá sản, tổ chức lại, giải thể, các công cụ tài chính phái sinh. Một số tác giả lại tập trung nghiên cứu vai trò của Giám đốc tài chính (CFO- Chief Financial Officer) như Richard A.
Brealey và cộng sự (2010) [76], Jeremy Hope (2008) [29] và Stephen A. Ross và cộng sự (2012) [99]. Các tác giả cho rằng QTTC là công việc của các Giám đốc tài chính (CFO). Các CFO là người tổ chức và quản lý tất cả các hoạt động tài chính nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu (market value) trong ràng buộc giới hạn về rủi ro.
CFO quản lý 2 bộ phận tài chính và kế toán. Tuy nhiên, các CFO không đi sâu vào cơ chế hạch toán kế toán (công việc của kế toán trưởng) mà họ phải giải thích được số liệu kế toán được sử dụng như thế nào để thực hiện các quyết định nội bộ và giúp cho các nhà đầu tư định giá chứng khoán. Họ sử dụng kết quả làm việc của bộ phận kế toán là một trong những căn cứ quan trọng để ra được các quyết định. Nhóm tác giả Cheol S.
Resnick (2007) trong cuốn International Financial Management (4th edition) (Quản trị tài chính quốc tế) [81] quan tâm đến QTTC các công ty đa quốc gia và hệ thống tiền tệ quốc tế. Nội dung cuốn sách thích hợp dành cho những người ngành tài chính ngân hàng. Nhóm tác giả Terry S.Zietlow (2005), Short –Term Financial Management (Quản trị tài chính ngắn hạn) [95] đi sâu vào vấn đề QTTC ngắn hạn với các nội dung quản trị vốn lưu động, quản trị dòng tiền, dự báo và lập kế hoạch tài chính, đầu tư ngắn hạn, quản trị rủi ro tài chính với các công cụ phái sinh, quản trị thông tin kho bạc và tính toán giá trị tiền tệ theo thời gian. luan an 9 Đối với thực tiễn quản trị gắn với đặc thù mỗi quốc gia có nhóm tác giả P.
Jain và cộng sự (2013) [89] và Hạng Hoài Thanh (2008) [60]. Tác giả Hạng Hoài Thanh (2008), tập trung trình bày vấn đề chuyển đổi cơ chế, chính sách quản lý tài chính ở cấp độ Nhà nước trong đó có nội dung về quản lý vốn nhà nước và tài chính ở cấp độ DN. Việc quản lý vốn và tài sản của Nhà nước trong các DN theo nguyên tắc “Sở hữu Nhà nước, phân cấp quản lý, trao quyền kinh doanh, phân công giám sát”. Quản lý vốn Nhà nước vào DN nói giản đơn là thực hiện sự điều hành tài chính có hiệu quả vốn Nhà nước đầu tư vào DN, đồng thời kiểm soát có hiệu quả rủi ro và lợi ích của Nhà nước.
Nhìn chung, các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu rất nhiều lý thuyết về QTTC, tập trung vào các công ty cổ phần và công ty đa quốc gia. Một số tác giả cũng đi sâu vào các chủ đề đặc biệt như quản lý tài sản ngắn hạn, quản trị rủi ro, cơ chế chính sách và quản lý vốn Nhà nước tại các DN ở Trung Quốc.2 Nghiên cứu một số nội dung cụ thể của quản trị tài chính doanh nghiệp Các tác giả trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu theo một số hướng sau: - Tầm quan trọng của QTTCDN: Các tác giả Nguyễn Văn Phúc (2011) [43] và tác giả Quốc Anh (2013) [2] đều cho rằng trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, bên cạnh chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các DN đều phải có kế hoạch tài chính của riêng mình, thiết lập được hệ thống quản trị để tính toán được rủi ro có thể có và phải có biện pháp hạn chế rủi ro. Tài chính DN lành mạnh là một trong những điều kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của DN diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao.