Phần Mở đầu: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu - Phần Nội dung: gồm 3 chƣơng + Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của quản trị vốn lƣu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến vốn lƣu động, quản trị vốn lƣu động ở khía cạnh chính sách đầu tƣ tài sản lƣu động và chính sách tài trợ vốn lƣu động cũng nhƣ kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân; hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động, các nghiên cứu trƣớc đây về mối quan hệ này. + Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng này sẽ giới thiệu về thực trạng công tác quản trị vốn lƣu động của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam, trình bày dữ liệu nghiên cứu, tìm hiểu sự khác biệt về công tác quản trị vốn lƣu động giữa các nhóm ngành, trình bày các giả thuyết và mô hình nghiên cứu, cách đo lƣờng các biến trong mô hình, phƣơng pháp ƣớc lƣợng trong mô hình. Luan van 6 + Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên cứu Chƣơng này sẽ trình bày kết quả ƣớc lƣợng mô hình và đƣa ra các hàm ý từ kết quả nghiên cứu - Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày các kết quả chính và những đóng góp quan trọng của đề tài nghiên cứu, chỉ ra các hạn chế trong nghiên cứu cũng nhƣ hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 6 Tổn qu n tà l ệu n ên ứu Quản trị vốn lƣu động đóng một vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của công ty trong kinh doanh do ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của công ty cũng nhƣ tính thanh khoản.
Mục tiêu chính của quản trị vốn lƣu động là duy trì sự cân bằng tối ƣu giữa các thành phần vốn lƣu động. Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quản lý các khoản phải thu, tồn kho và các khoản phải trả có hiệu quả Filbeck và Krueger (2005). Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Deloof (2003) đã kết luận rằng hầu hết các công ty đều có một khoản tiền lớn để đầu tƣ vào vốn lƣu động.
Do đó, có thể kỳ vọng rằng cách quản trị vốn lƣu động sẽ có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp đó. Ông đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu 1.009 doanh nghiệp phi tài chính của Bỉ từ 1992-1996 để tìm ra mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động. Kết quả, ông đã tìm ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa lợi nhuận hoạt động gộp và số ngày phải thu, hàng tồn kho và thanh toán. Trên cơ sở những kết quả này, ông gợi ý rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm số ngày phải thu và hàng tồn kho xuống mức tối thiểu hợp lý.
Mối quan hệ tiêu cực giữa các khoản phải trả và lợi nhuận phù hợp với quan điểm cho rằng các công ty ít có khả năng sinh lợi Luan van 7 phải chờ đợi lâu hơn để thanh toán hoá đơn. Một nghiên cứu khác của Lazaridis và Tryfonidis (2006) về 131 công ty phi tài chính trên sàn giao dịch chứng khoán Athen giai đoạn 2001-2004 cũng đã tìm ra mối quan hệ đáng kể giữa quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động. Họ đã sử dụng biến số ngày phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho, số ngày thanh toán, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để thể hiện quản trị vốn lƣu động của doanh nghiệp, biến số suât lợi nhuận gộp (GOP) thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ ngƣợc chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Kết quả này cũng đồng quan điểm với nghiên cứu của Deloof (2003) khi cho rằng có mối quan hệ ngƣợc chiều giữa lợi nhuận hoạt động gộp và số ngày phải thu, hàng tồn kho và thanh toán. Kết quả tƣơng tự về mối quan hệ ngƣợc chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hay mối quan hệ ngƣợc chiều giữa khả năng sinh lợi và số ngày phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả nhƣ: Nghiên cứu của Alipour (2011) đƣợc thực hiện tại Iran trong giai đoạn 2001-2006, nghiên cứu của Napompech (2012) trong giai đoạn 2007-2009 của 256 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thái Lan, hay nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn trên toàn khu vực châu Á trong giai đoạn 2006-2010 của Khawaja và cộng sự (2011),… Ngoài việc sử dụng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt hay số ngày phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán để đánh giá hiệu quả của công tác quản trị vốn lƣu động. Một hƣớng nghiên cứu khác của Weinraub và Visscher (1998) đã thảo luận về vấn đề các chính sách quản lý vốn lƣu động tích cực và thận trọng bằng cách sử dụng số liệu hàng quý cho giai đoạn 1984-393 của các công ty Hoa Kỳ. Nghiên cứu đã sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản hay chính sách đầu tƣ tài sản lƣu động Luan van 8 và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản hay chính sách tài trợ vốn lƣu động để đánh giá chính sách quản trị vốn lƣu động.
Sự gia tăng mức đầu tƣ vào tài sản lƣu động cho thấy ngƣời quản lý tuân theo chính sách bảo thủ trong việc quản lý vốn lƣu động. Tuy nhiên, việc đầu tƣ ít vào tài sản lƣu động cho thấy một chính sách mạo hiểm. Nếu xem xét chính sách tài trợ, công ty có thể sử dụng khoản nợ ngắn hạn hoặc dài hạn để tài trợ cho hoạt động của mình. Bằng cách sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho hoạt động của mình, công ty tuân theo chính sách tài chính bảo thủ, trong khi nếu công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động của mình thì công ty tuân theo chính sách tài trợ mạo hiểm.
Nghiên cứu của họ đã xem xét 10 nhóm ngành công nghiệp khác nhau để kiểm tra mối quan hệ tƣơng đối giữa các chính sách vốn mạo hiểm / thận trọng. Sử dụng phƣơng pháp phân tích ANOVA nghiên cứu đã tìm ra sự khác biệt đáng kể về chính sách vốn lƣu động giữa các ngành công nghiệp. Nghiên cứu của Nazir và Afza (2009) cũng đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đã tìm hiểu về tác động của chính sách đầu tƣ và tài trợ mạo hiểm/ thận trọng lên lợi nhuận của 204 công ty Pakistan đƣợc chia thành 16 nhóm công nghiệp ở sàn chứng khoán Karachi trong giai đoạn 1998- 2005.
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp hồi quy dữ liệu bảng với tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản làm biến độc lập và chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) để đo lƣờng hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa các biện pháp về lợi nhuận của các doanh nghiệp và mức độ mạo hiểm của các chính sách đầu tƣ và tài trợ vốn lƣu động. Kết quả là các công ty báo cáo lợi nhuận âm nếu họ làm theo một chính sách vốn lƣu động mạo hiểm. Một nghiên cứu khác của Vahid và cộng sự (2012) với mẫu 28 công ty niêm yết trên TTCK Tehran trong thời gian 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009 cũng đã cho kết quả tƣơng tự ở chính Luan van 9 sách tài trợ vốn lƣu động, kết quả đối lập ở chính sách đầu tƣ tài sản lƣu động Việt Nam có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở nhiều giai đoạn, lĩnh vực ngành nghề khác nhau.
Nghiên cứu công bố gần đây nhất vào năm 2015 ở phạm vi sàn chứng khoán Việt Nam là nghiên cứu Thanh Trúc và Đình Thiên. Nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động với chính sách quản trị vốn lƣu động của các công ty dựa trên dữ liệu từ báo cáo tài chính của 564 công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán Việt Nam giai doạn 2006 – 2013. Phƣơng pháp hồi quy theo mô hình tác động cố định và ngẫu nhiên dựa vào dữ liệu bảng không cân bằng đã đƣợc các tác giả sử dụng trong nghiên cứu này. Các kiểm định cho thấy mô hình tác động cố định giải thích mối quan hệ giữa các biến độc lập với hiệu quả hoạt động của công ty tốt hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ nguợc chiều giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đuợc đo luờng qua tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và các số ngày luân chuyển vốn lƣu động, gồm số ngày tồn kho bình quân, số ngày thu tiền bình quân, số ngày thanh toán khoản phải trả và chu kỳ luân chuyển tiền. Ngoài ra, vòng quay tài sản ngắn hạn và tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản cũng có quan hệ cùng chiều với ROA. Kết quả này hàm ý rằng các nhà quản lý các công ty niêm yết Việt Nam có thể gia tăng hiệu quả hoạt động của công ty thông qua một chính sách quản trị vốn lƣu động hợp lý. Một nghiên cứu khác của Kim Thoa và Uyên Uyên (2014) cũng đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lợi của 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2006-2012.
Nghiên cứu đã sử dụng các phƣơng pháp uớc luợng bình phƣơng tối thiểu (pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và bình phƣơng tối Luan van 10 thiểu tổng quát (GLS) kiểm dịnh mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lợi ở các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy việc quản trị vốn lƣu động hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền và kỳ lƣu kho sẽ gia tăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp.