CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường; tính chất và mức độ phát triển của TCDN cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa (Lưu Thị Thu Hương, 2010). TCDN được đặc trưng bằng những nội dung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, TCDN phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị trong nền kinh tế.
Luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt động SXKD của DN. Thứ hai, sự vận động của các nguồn TCDN là sự vận động chuyển hoá từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của DN và ngược lại. Sự chuyển hoá qua lại đó được điều chỉnh bằng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu SXKD của DN. Từ những đặc trưng trên của TCDN, chúng ta có thể rút ra kết luận về khái niệm TCDN như sau: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phán ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Khái niệm về quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu HĐTC của doanh nghiệp. Mục tiêu đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, liên tục làm tăng giá trị DN và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường (Phạm Quang Trung, 2012). Luan van 5 Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của QTDN. Chức năng QTTC có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực.
Quản trị TCDN bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty. Vì vậy, chức năng quyết định của QTTC có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông (Phạm Quang Trung, 2012). Như vậy, “Quản trị tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch.
Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp Theo giáo trình quản trị Tài chính doanh nghiệp của tác giả Phạm Quang Trung (2012), Quản trị TCDN đạt hiệu quả góp phần rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia. QTTC luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động QLDN. QTTC đóng vai trò rất quan trọng, quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Các vai trò của quản trị TCDN trong hoạt HĐKD bao gồm: - Một là, huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho HĐKD của doanh nghiệp: Vai trò của TCDN trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho HĐKD của doanh nghiệp trong thời kỳ.
Vai trò của quản trị TCDN ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp. - Hai là, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy CBNV gắn liền với doanh Luan van 6 nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến SXKD nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn. - Ba là, kiểm tra, giám sát các mặt hoạt động SXKD của doanh nghiệp một cách chặt chẽ: Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà QTDN có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong HĐKD, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh. Các quyết định quản trị tài chính QTTC bao gồm các hoạt động liên quan đến việc đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty.
Vì vậy, chức năng quyết định của QTTC có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản (Phạm Quang Trung, 2012). Quyết định đầu tư: Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản của QTTC. Để duy trì một cơ cấu tài sản hợp lý, các nhà QTTC không chỉ ra các quyết định đầu tư mà còn ra các quyết định cắt giảm, loại bỏ hay thay thế đối với các tài sản không còn giá trị kinh tế. Các quyết định này tác động trực tiếp lên KNSL và rủi ro của doanh nghiệp.
Các nhà QTTC phải ra các quyết định nhằm xác định quy mô tăng trưởng của công ty và đảm bảo một cơ cấu tài sản thích hợp bằng các hoạt động đầu tư, cắt giảm.Các quyết định này tác động trực tiếp lên KNSL và rủi ro của doanh nghiệp. Quyết định tài trợ: Để tài trợ cho tài sản, các nhà QTTC phải tìm kiếm các nguồn vốn thích hợp thông qua các quyết định tài trợ. Các nguồn vốn để tài trợ cho tài sản bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vốn chủ. Khi đã quyết định tài trợ, nhà QTTC phải xác định phương án tốt nhất để thu hút nguồn vốn cần thiết và cần phải hiểu được các cơ chế để nhận được các khoản vay ngắn hạn, ký kết các hợp đồng vay dài hạn hay thương lượng để bán cổ phiếu, trái phiếu.
Luan van 7 Quyết định quản trị tài sản: Quyết định thứ ba đối với nhà QTTC là quyết định quản trị tài sản. Nhà QTTC sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc quản trị các tài sản lưu động so với TSCĐ trong khi phần lớn trách nhiệm quản lý TSCĐ thuộc về các nhà quản trị sản xuất, những người vận hành trực tiếp TSCĐ. Nhiệm vụ của quản trị tài chính Mục tiêu tạo giá trị: Mục tiêu cơ bản được thừa nhận ở hầu hết các công ty là tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Giá trị của cổ đông được tăng tối đa bằng cách tăng tối đa khoản chênh lệch giữa giá trị thị trường của toàn bộ cổ phiếu và lượng vốn chủ do cổ đông cung cấp.
Cũng có những ý kiến tranh cãi về việc chọn giá trị cho cổ đông làm mục tiêu của QTTC. Song, nếu suy cho cùng thì đây là mục tiêu phản ánh tổng hợp nhất mong muốn của chủ - nhóm hữu quan quan trọng nhất của doanh nghiệp.Mục tiêu này không phản ánh ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá thị trường của cổ phiếu. Giá trị thị trường tính đến cả thu nhập hiện tại và thu nhập kỳ vọng của cổ phiếu, thời gian, thời hạn và rủi ro của các dòng thu nhập, chính sách cổ tức của công ty cũng như các nhân tố khác liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu. Các bên hữu quan: Cũng đã từ lâu, người ta nhận ra rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong các công ty hiện đại dẫn đến những mâu thuẫn tiềm ẩn giữa những người chủ và những người quản lý.
Đặc biệt là mục tiêu của các nhà quản trị có thể khác với mục tiêu của các cổ đông. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu với hoạt động quản lý tạo ra một tình huống để các nhà quản trị có thể hành động vì lợi ích của họ hơn là vì lợi ích của các cổ đông. Các cổ đông hy vọng rằng các đại diện sẽ hành động vì lợi ích cao nhất của họ nên ủy quyền ra quyết định cho đại diện. Việc kiểm soát được thực hiện bằng cách kiểm tra các đại diện, xem xét lại một cách hệ thống các đặc quyền quản lý.
Thị trường vốn hiệu quả là nơi cung cấp các dấu hiệu về giá trị chứng khoán nên nó cũng phản ánh thành tích của các nhà quản trị. Trách nhiệm xã hội: Tối đa hóa giá trị cổ đông không có nghĩa là các nhà quản trị phải từ bỏ các trách nhiệm xã hội như bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng, Luan van 8 duy trì chính sách thuế trung thực và điều kiện làm việc an toàn, hỗ trợ giáo dục và quan tâm đến các vấn đề môi trường. Bên cạnh lợi ích cổ đông, các nhà quản trị còn phải tính đến lợi ích của tất cả các bên hữu quan. Các bên hữu quan bao gồm chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng nơi công ty hoạt động… có thể nói, công ty chỉ có thể đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị cổ đông khi họ quan tâm đến lợi ích chính đáng của các bên hữu quan.
Hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật (năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư) và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị (hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí). Hiệu quả kinh tế của một quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu đã xác định. Khái niệm này phản ánh tương đối đầy đủ tính hiệu quả kinh tế của hoạt động SXKD.
Hiệu quả kinh tế của các hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra (Nguyễn Năng Phúc, 2011).