đặt vấn đề các công ty quản trị dòng tiền khác nhau như thế nào, Nguyễn Thắng và cộng sự (2017) đã lựa chọn tiêu chí phân loại DN khác là mức độ đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động của DN. Công ty đa dạng hoạt động có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu thấp hơn các công ty chuyên doanh bởi vì họ tài trợ nội bộ nhiều hơn cho các khoản đầu tư từ dòng tiền hoạt động. Kế thừa các nghiên cứu trước đó, xem xét bộ phận cấu thành dòng tiền thuần, nhóm tác giả nhận thấy các công ty tạo ra dòng tiền hoạt động có thể so sánh được. Kết qủa cho thấy dòng tiền hoạt động có mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa thống kê với quy mô công ty, tỷ suất sinh lợi ROA, nhưng tác động ngược chiều với mức độ nắm giữ tiền mặt, hệ số nợ.
Nhận thấy tầm quan trọng của quản trị dòng tiền và dòng tiền trong hoạt động kinh doanh, Aymen Telmoudi và cộng sự (2010) đã nghiên cứu quản trị dòng tiền thông qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền hoạt động của các công ty thương mại. Kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh chịu tác động đáng kể bởi chu kỳ hoạt động (liên quan đến việc thu nợ đúng hạn, trả nợ đúng hạn, dòng hàng dự trữ kịp thời) và khả năng sinh lợi. Tuy nhiên, nó không chịu ảnh hưởng của hai yếu tố là thu nhập và sự tăng trưởng của doanh thu. Kế thừa cách tiếp cận trên, Claudia Diana Sabău-Popa và cộng sự (2021) nghiên cứu quản trị dòng tiền của DN thông qua phân tích chỉ tiêu dòng tiền hoạt động của các DN sản xuất ngành năng lượng niêm yết trên Sở giao dịch chứng 13 khoán Bucharest.
Nhóm nghiên cứu xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa dòng tiền hoạt động với các biến độc lập, cụ thể như sau: Dòng tiền hoạt động có mối quan hệ thuận chiều với thời gian thanh toán trung bình cho nhà cung cấp, tuy nhiên lại có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình và thời gian thu hồi khoản phải thu. Trần Thị Minh Nguyệt và Đàm Thanh Tú (2019) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị dòng tiền của các công ty thực phẩm niêm yết tại Việt Nam, tập trung vào chỉ tiêu dòng tiền thuần của vốn chủ sở hữu (FCFE) và dòng tiền thuần của DN (FCFF) làm biến phụ thuộc. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng khoản phải thu và lượng hàng tồn kho có tác động thuận chiều đến dòng tiền thuần của DN. Tuy nhiên nhóm tác giả cũng nhấn mạnh đặc thù của ngành chế biến thực phẩm không thể bảo quản dài, thậm chí có thể tăng thêm chi phí quản lý hàng tồn kho.
Vì vậy, chỉ nên dự trữ hàng tồn kho nhằm mục đích đề phòng tình huống rủi ro trong kinh doanh. Ngoài ra, kỳ phải trả có tác động thuận chiều với dòng tiền thuần của các DN. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền của các DN xây dựng ở Việt Nam, bài nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Thị Tú Oanh và cộng sự (2020) đã xác định các yếu tố tác động mà DN cần lưu tâm, đó là môi trường vĩ mô (lạm phát, chính sách thuế, khủng hoảng tài chính toàn cầu, tiến bộ công nghệ), các khoản phải trả, khoản phải thu, tỷ lệ tiền giữ lại. Khi nghiên cứu về quản trị dòng tiền với mục tiêu giúp DN giảm thiểu khủng hoảng tài chính, nhóm tác giả Muhamad Safiq và cộng sự (2020) đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó để lập luận rằng lạm phát và vốn lưu động có ảnh hưởng tới dòng tiền của DN.
Ngoài ra, những thay đổi về khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho có tác động đến dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Quan tâm đến hiệu quả quản trị dòng tiền, bên cạnh xem xét các yếu tố vi mô, một số bài nghiên cứu khoa học đã phân tích sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến quản trị dòng tiền của DN. Bài nghiên cứu của Escobar A. và cộng sự (2018) đã chứng minh mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng trưởng kinh tế với dòng tiền thuần từ hoạt động của DN trong lĩnh vực công nghiệp tại Colombia.
Để xác định ảnh hưởng của biến tăng trưởng kinh tế, nhóm tác giả mô phỏng GDP thay đổi tăng dần theo đơn vị phần trăm (dao động từ -5% đến 6%) để đo lường sự thay đổi 14 của dòng tiền hoạt động. Kết quả cho thấy khi tốc độ tăng trưởng GDP bằng 0%, giá trị dòng tiền là một hằng số, khi GDP tăng lên thì dòng tiền hoạt động cũng tăng lên. Ngoài ra, Abel (2020) công bố rằng lạm phát có mối quan hệ tích cực đáng kể với dòng tiền của DN, nhưng tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) không ảnh hưởng đến dòng tiền. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị dòng tiền đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Một số nghiên cứu quan tâm đến mối quan hệ giữa quản trị dòng tiền với hiệu quả hoạt động của DN vì cho rằng dòng tiền là một yếu tố đóng góp vào hiệu quả hoạt động của DN (Adelegan, 2003; Saleemi, 2002).
Theo Saleemi (2002), nếu các DN không thực hiện các biện pháp quản lý tiền mặt phù hợp thì chắc chắn sẽ không đạt được mức dòng tiền mong muốn. Với dòng tiền vào bị hạn chế, doanh số bán hàng tiềm năng cũng sẽ giảm, do đó lợi nhuận của DN cũng sẽ giảm theo. Khi xem xét hiệu quả hoạt động của DN dựa trên chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi ROA, ROE, Bingilar và Oyadenghan (2014), Muhammad và Aminatu (2018) đều kết luận rằng có sự tác động thuận chiều và đáng kể giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh với chỉ tiêu ROA, ROE. Bài nghiên cứu của Tô Lan Phương (2020) đánh giá tác động của quản trị dòng tiền đến khả năng sinh lợi của các DN niêm yết ngành thực phẩm, kết quả cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa dòng tiền và tỷ suất sinh lợi.
Cụ thể, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có quan hệ thuận chiều với ROA và ROE, trong khi đó, dòng tiền từ hoạt động tài chính, dòng tiền từ hoạt động đầu tư có quan hệ ngược chiều với ROA và ROE. Zhou, H, Yang, S, and Zhang, M (2012), đã kiểm tra mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và hiệu quả tài chính từ các doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại Trung Quốc. Nghiên cứu cho thấy dòng tiền tự do có tương quan nghịch với hiệu quả tài chính và việc dòng tiền tự do cao sẽ dẫn đến hiệu quả tài chính giảm. (2013) thực hiện điều tra tổng thu nhập và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành ứng dụng điện tử của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 2009 đến 2011 và sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng. Nghiên cứu chỉ ra rằng dòng tiền vào và hiệu quả hoạt động của DN có mối quan hệ tiêu cực đáng kể. 15 Một số nghiên cứu lựa chọn chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) là thước đo hiệu quả quản trị tiền mặt để phân tích mối quan hệ giữa CCC với tỷ suất sinh lợi của DN, từ đó cho những kết luận khác nhau. Gill và cộng sự (2010), Sharma và Kumar (2011) công bố kết quả nghiên cứu rằng tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa CCC và ROA.
Do đó có thể tăng lợi nhuận, tăng giá trị DN bằng cách tập trung cải thiện CCC, giữ các khoản phải thu ở mức tối ưu. Tuy nhiên, lại có những nghiên cứu cho kết quả ngược lại. Nhóm tác giả Uwuigbe và cộng sự (2011) nghiên cứu 15 DN sản xuất niêm yết ở Nigeria từ năm 2005-2009. Nhóm tác giả kết luận rằng CCC và lợi nhuận của DN có mối quan hệ ngược chiều, từ đó gợi ý rằng các nhà quản trị có thể tạo ra giá trị lợi ích cho các cổ đông, tăng thêm lợi nhuận bằng cách giảm CCC xuống mức tối thiểu có thể và các khoản phải thu phải được giữ ở mức tối ưu.
Kết quả này giống với kết luận của Garcia-Teruel và Martinez - Solano (2007), Mathuva (2010) công bố trước đó. Như vậy, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị dòng tiền và hiệu quả hoạt động của DN cho những kết quả khác nhau. Tóm lại, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản trị dòng tiền của DN một cách khái quát hoặc đi sâu vào một nội dung của quản trị dòng tiền DN, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện mang tính định tính và định lượng về vấn đề này, đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến quản trị dòng tiền của các DN, cụ thể với các DN Dệt mayở Việt Nam. Những giá trị khoa học và thực tiễn của các công trình nghiên cứu đã công bố và khoảng trống nghiên cứu 1.
Những giá trị khoa học và thực tiễn Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã công bố từ trước đến nay có liên quan đến đề tài đã trình bày một cách hệ thống các vấn đề lý luận về quản trị dòng tiền của DN. Các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều đánh giá được vai trò quan trọng của quản trị dòng tiền đối với hoạt động của DN và sự phát triển bền vững của DN. Trong các bài nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng và nêu nhận định về một số vấn đề như: các DN đều đánh giá thông tin dòng tiền là quan trọng nhưng việc sử dụng thông tin này chưa hiệu quả, nhiều DN chưa chú trọng đến quản trị dòng tiền của DN theo quy trình mà chỉ quan tâm thực hiện lập kế hoạch dòng tiền, việc dự báo dòng tiền tương lai còn thực hiện theo phương pháp 16 giản đơn nên chỉ đúng trong ngắn hạn. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị dòng tiền của các DN, nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DN nói chung hoặc của một ngành nghề cụ thể.
Về đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu đa dạng, tập trung vào thông tin dòng tiền của DN, tác động của dòng tiền đến hoạt động của DN, công tác quản trị dòng tiền của DN hoặc một nội dung cụ thể trong quản trị dòng tiền của DN như quản trị ngân quỹ, công tác dự báo dòng tiền tương lai.