CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CHI NGAN SACH NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT VÈ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Cho đến nay, thuật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia.
Tuy nhiên, người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm NSNN, tùy theo quan điểm của các tác giả thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, hoặc tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cỗ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của chính phủ, được thiết lập hàng năm. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN. Chẳng hạn, theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước.
Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chỉ tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định. Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chỉ bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước. Có thể thấy rằng, các định nghĩa khác nhau về NSNN trên đây mới chỉ mô tả hình thức biêu hiện bên ngoài của NSNN, mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong - mặt bản chất của NSNN. Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng, nhưng nếu xem xét ở giác độ hoạt động tài chính thì NSNN lai là một hoạt động tài chính cụ thể của nhà nước.
Do vậy, khái niệm NSNN phải thê hiện được mặt bản chất, tức là nội dung KT-XH chứa đựng bên trong của NSNN, muốn vậy NSNN phải được xem xét trên các giác độ khác nhau. Xét về hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi do chính phủ lập ra, đệ trình quốc hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chức thực hiện. Xét về thực thể, NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thê và được định lượng. Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong NSNN, ta thấy các khoản thu NSNN, các khoản chỉ NSNN chính là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước.
Trong quá trình này, xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối các nguồn tài chính Ở Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành năm 2004, đã nêu: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quy định và được thực hiện trong một năm đê đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Hệ thống ngân sách nhà nước ở nước ta bao gồm: Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địa phương), bao gồm: ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); Ngân sách cấp huyện, thị xã, thành phó thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã), 1. Đặc điễm của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Ngân sách nhà nước có một sô đặc điểm sau: - Hoạt động thu chỉ của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước.
Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chỉ, nội dung và cơ cầu thu chỉ của NSNN - Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chỉ của nhà nước; Các hoạt động thu, chỉ NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ. Ví dụ như Luật thuế, các chế độ chỉ tiêu, tiêu chuân định mức chỉ tiêu. do Nhà nước ban hành. - Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN được hình thành chủ yếu thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế là hình thức thu phô biến.
- Ân sau các hoạt động thu chi của NSNN là các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Chức năng của ngân sách nhà nước Một là, chức năng phân phối NSNN. Bộ máy nhà nước muốn thực hiện được sự hoạt động của mình một cách bình thường và ôn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo. Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết.
Nhưng cơ sở đề hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh. Cho nên, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Vì vậy, nhà nước trong quá trình quản lý KT - XH phải nắm được quy 10 luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan. Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thê của nền kinh tế.
Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chỉ tiêu sao cho có hiệu quả. Hai là, chức năng giám đốc quá trình huy động các nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu. Thực hiện chức năng này, nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chỉ nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp đề làm tốt thu - chỉ. Nhà nước định ra cơ cấu thu- chỉ hợp lý; theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu- chỉ.
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản: chức năng phân phối và chức năng giám đốc. NSNN không thẻ cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó, sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức. Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thê động viên được nguồn thu cho NSNN. Chỉ ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm, đặc diém chỉ ngân sách nhà nước a, Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước: Chỉ NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước. Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất đẻ duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định Phạm vi chỉ NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Phân tích từ khái niệm chỉ NSNN có thẻ thấy: Quyền quyết định chỉ NSNN do Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan công quyền được ủy quyền) quyết định. Chỉ NSNN không mang 11 tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích kinh tế - xã hội.
Sự quản lý chỉ NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai và minh bạch và có sự tham gia của công chúng. b, Đặc điểm của chỉ NSNN: - Đặc điêm nôi bật của chỉ NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. - Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chỉ NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
Các khoản chỉ NSNN do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chỉ tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH. - Chi NSNN cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như dau tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội,. đồng thời đó cũng là những khoản chỉ cần thiết, phát sinh tương đối ồn định như: chỉ lương cho viên chức bộ máy Nhà nước, chỉ hàng hóa dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư. ~ Các khoản chỉ NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp.
Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chỉ NSNN. Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước. Tóm lại, chí NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, là công cụ dé nha nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, thúc day kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Bản chất và vai trò của chỉ ngân sách nhà nước a, Bản chất của chỉ ngân sách nhà nước.
- Xét về mặt bản chất, chỉ ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hoá - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm anh ninh quốc phòng. - Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chỉ ngân sách nhà nước, ngược lại sử dụng vốn ngân sách đề chỉ tiêu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện đê tăng nhanh thu nhập của ngân sách.