Tác động của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thị trường lao động.

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

196
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1.1. Thương mại quốc tế

1.1.2. Việc làm và cơ hội việc làm

1.1.3. Việc làm bền vững

1.1.4. Cầu lao động

1.1.5. Lý thuyết về ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm

1.1.6. Tổng quan nghiên cứu

1.1.6.1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của TMQT đến việc làm
1.1.6.2. Nghiên cứu về tác động của TMQT đến việc làm theo giới
1.1.6.3. Nghiên cứu về tác động của TMQT đến việc làm theo trình độ CMKT
1.1.6.4. Nghiên cứu về tác động của TMQT đến cơ hội việc làm của người lao động

1.1.7. Khung phân tích

1.1.8. Tóm tắt chương 1

1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1. Cơ sở lý thuyết mô hình

1.2.2. Mô hình lý thuyết với hai yếu tố sản xuất

1.2.3. Mô hình lý thuyết về nhiều yếu tố sản xuất

1.2.4. Mô hình phân tích tác động của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm trong thực nghiệm

1.2.5. Mô hình phân tích tác động đến cầu lao động

1.2.6. Mô hình phân tích tác động thương mại quốc tế đến việc làm theo loại lao động

1.2.7. Mô hình đề xuất tác động của thương mại quốc tế đến cầu việc làm

1.2.8. Mô hình phân tích tác động của thương mại quốc tế đến cơ hội việc làm

1.2.9. Các nghiên cứu thực nghiệm

1.2.10. Mô hình đề xuất

1.2.11. Phương pháp ước lượng

1.2.11.1. Phương pháp mô men tổng quát GMM
1.2.11.2. Phương pháp ước lượng cho mô hình logit

1.2.12. Số liệu và phần mềm sử dụng

1.2.12.1. Số liệu từ điều tra Doanh nghiệp
1.2.12.2. Điều tra lao động việc làm
1.2.12.3. Điều tra nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp
1.2.12.4. Số liệu thứ cấp khác
1.2.12.5. Phần mềm sử dụng

1.2.13. Tóm tắt chương

1.3. THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

1.3.1. Thực trạng thương mại quốc tế ở Việt Nam

1.3.2. Thực trạng xuất khẩu

1.3.3. Thực trạng nhập khẩu

1.3.4. Cán cân thương mại

1.3.5. Thực trạng việc làm

1.3.6. Việc làm phân theo giới và khu vực thành thị nông thôn

1.3.7. Việc làm phân theo nhóm tuổi

1.3.8. Việc làm phân theo khu vực

1.3.9. Việc làm phân theo vị thế

1.3.10. Việc làm phân theo nghề

1.3.11. Việc làm phân theo nhóm ngành

1.3.12. Việc làm bền vững

1.3.13. Tóm tắt chương 3

1.4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM

1.4.1. Phân tích thống kê về quan hệ giữa thương mại quốc tế và việc làm trong các doanh nghiệp

1.4.2. Quan hệ giữa định hướng xuất khẩu và việc làm

1.4.3. Quan hệ giữa thâm nhập nhập khẩu và việc làm

1.4.4. Mô hình phân tích ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm

1.4.5. Mô hình ước lượng

1.4.6. Ước lượng mô hình

1.4.7. Tác động đến lao động ở các nhóm ngành theo trình độ công nghệ

1.4.8. Mô hình phân tích tác động của thương mại quốc tế đến cơ hội có việc làm bền vững của người lao động

1.4.9. Mô hình ước lượng

1.4.10. Thảo luận kết quả

1.4.11. Tóm tắt chương 4

2. KẾT LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH

2.1. Định hướng chính sách

2.2. Bối cảnh quốc tế và trong nước

2.3. Những phát hiện mới của luận án

2.4. Đóng góp về lý luận, học thuật

2.5. Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ nghiên cứu

2.6. Hướng nghiên cứu tiếp theo

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tác động của thương mại quốc tế đến việc làm

Thương mại quốc tế (thương mại quốc tế) đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho thị trường lao động tại Việt Nam. Theo lý thuyết Heckscher-Ohlin, nhu cầu lao động lành nghề có thể giảm ở các quốc gia thâm dụng lao động không có tay nghề do cải cách thương mại. Điều này dẫn đến việc phân bổ lại việc làm từ các ngành cạnh tranh nhập khẩu sang các ngành định hướng xuất khẩu. Sự mở cửa thương mại không chỉ làm tăng khả năng đáp ứng của việc làm mà còn ảnh hưởng đến tiền lương và tổng cầu lao động. Các yếu tố như chi phí hàng hóa giảm và sự khuếch tán công nghệ mới cũng có thể làm tăng nhu cầu về lao động lành nghề. Tuy nhiên, sự cạnh tranh từ các quốc gia khác có thể làm giảm luồng đầu tư FDI vào Việt Nam, ảnh hưởng đến cơ hội việc làm cho lao động trình độ thấp.

1.1. Xu hướng việc làm trong bối cảnh thương mại quốc tế

Xu hướng việc làm tại Việt Nam đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thương mại quốc tế. Sự gia tăng xuất khẩu đã tạo ra hàng triệu việc làm, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất chế tạo. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, xuất khẩu trực tiếp đã tạo ra 9,9 triệu việc làm vào năm 2010. Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều, với nhiều lao động vẫn làm việc trong các ngành có giá trị gia tăng thấp. Điều này dẫn đến sự phân hóa trong thị trường lao động, nơi mà lao động có trình độ cao được hưởng lợi nhiều hơn từ thương mại quốc tế. Các doanh nghiệp trong nước cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị tụt lại phía sau trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

1.2. Tác động đến chất lượng việc làm

Mặc dù thương mại quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, chất lượng việc làm vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Tỷ lệ lao động làm việc phi chính thức vẫn cao, với khoảng 18,9 triệu lao động không có hợp đồng lao động. Chất lượng lao động cũng thấp, với chỉ 24% lực lượng lao động có bằng cấp hoặc chứng chỉ. Điều này cho thấy rằng mặc dù có sự gia tăng về số lượng việc làm, nhưng thương mại quốc tế không đảm bảo rằng tất cả lao động đều có cơ hội tiếp cận việc làm bền vững và chất lượng cao. Cần có các chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đảm bảo rằng lợi ích từ thương mại quốc tế được phân phối công bằng hơn.

II. Chính sách và định hướng phát triển

Để tận dụng tối đa lợi ích từ thương mại quốc tế, Việt Nam cần có những chính sách phù hợp nhằm cải thiện thị trường lao động. Chính sách cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động có trình độ thấp. Việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề sẽ giúp lao động có khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động. Các chương trình hỗ trợ cho lao động nữ và các nhóm yếu thế cũng cần được triển khai để đảm bảo rằng tất cả mọi người đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

2.1. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo

Đầu tư vào giáo dục và đào tạo là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng lao động. Chính phủ cần tăng cường các chương trình đào tạo nghề, đặc biệt là cho lao động trẻ và lao động chưa qua đào tạo. Việc này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng cho lao động mà còn tạo ra cơ hội việc làm bền vững hơn. Các doanh nghiệp cũng cần tham gia vào quá trình này bằng cách hợp tác với các cơ sở giáo dục để đảm bảo rằng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường.

2.2. Khuyến khích đầu tư công nghệ

Khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động. Các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ hiện đại sẽ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, từ đó tạo ra nhiều việc làm hơn. Đồng thời, việc áp dụng công nghệ mới cũng giúp giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Cần có các chương trình hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ có thể tiếp cận công nghệ mới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước nhằm mục đích đem lại lợi ích kinh tế. Định nghĩa này được đồng thuận bởi Economics Concepts (2012), đã định nghĩa thương mại quốc tế là thương mại xuyên biên giới.

Trao đổi hàng hoá và dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội, nó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Ở hầu hết các quốc gia, thương mại quốc tế chiếm một phần quan trọng đáng kể về kinh tế, xã hội và chính trị. Do đó, nếu không có thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ bị giới hạn trong các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong biên giới của chính họ. Tuy nhiên, Economics Concepts Concept (2012) cho biết thương mại quốc tế đòi hỏi các chi phí như thuế quan và các chi phí khác liên quan đến sự khác biệt của quốc gia như ngôn ngữ, hệ thống pháp lý hoặc văn hóa cũng phải chịu.

Các yếu tố sản xuất như vốn và lao động thường di chuyển tự do trong một quốc gia hơn là giữa các quốc gia (Danjuma và cộng sự , 2014). Việc làm và cơ hội việc làm Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật”. Theo khoản 1, Điều 9, Chương II của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Việc làm là họat động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.

Việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: hoạt động lao động, tạo ra thu nhập và hoạt động này phải hợp pháp. Cụ thể như sau: thứ nhất, nó phải là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sự lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ; thứ hai, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập; thứ ba, hoạt động này phải hợp pháp, tức là các hoạt động lao động tạo ra thu nhập phải được pháp luật thừa nhận. Do đó, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động. luan an 10 Theo Humphrey, Albert (2005) định nghĩa cơ hội “là những sự việc bên ngoài không thể kiểm soát được, có thể là những lợi thế tiềm năng mang lại khả năng thành công”.

Theo Emet, Merba (2017), cơ hội được hiểu là “một tình huống hoặc điều kiện phù hợp cho một hoạt động có khả năng xảy ra, được xem là lợi thế và động lực cho một hoạt động diễn ra mang đặc tính tích cực và thuận lợi”. Cơ hội là mang lại kết quả tích cực cho cá nhân được xác định dựa trên điều kiện hệ sinh thái có thể tác động. Trên thực tế, cơ hội là “những điều kiện môi trường bên ngoài cho phép cá nhân có khả năng tận dụng điểm mạnh và khắc phục điểm yếu hoặc hạn chế các mối đe dọa, nguy cơ về môi trường tác động đến” (Harrison và St. Như vậy, cơ hội việc làm được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc tham gia vào thị trường lao động với những công việc tạo ra thu nhập hợp pháp.

Việc làm bền vững Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2017) xác định việc làm bền vững “liên quan đến những cơ hội việc làm năng suất và mang lại thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc và phúc lợi xã hội cho gia đình, triển vọng phát triển con người và hòa nhập xã hội tốt hơn, mọi người có quyền tự do bày tỏ quan điểm, tổ chức và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ, và cơ hội cũng như đối xử bình đẳng giữa nam và nữ”. Việc làm bền vững được đề cập đến bốn nội dung, bao gồm việc làm, quyền, bảo trợ và đối thoại; những nội dung này không thể tách rời, tương quan và hỗ trợ lẫn nhau thiết lập nên việc làm bền vững cho người lao động. Đo lường việc làm bền vững (ILO, 2013) là những công việc có đặc điểm: (i) cơ hội việc làm; (ii) thu nhập đầy đủ và công việc hiệu quả; (iii) thời gian làm việc; (iv) cân bằng công việc, gia đình và cuộc sống cá nhân; (v) công việc cần được bãi bỏ; (vi) ổn định và bảo đảm việc làm; (vii) cơ hội và đối xử bình đẳng trong việc làm; (viii) môi trường làm việc an toàn; (ix) an sinh xã hội; và (x) đối thoại xã hội, người sử dụng lao động và đại diện cho người lao động. Trong nghiên cứu này, việc làm bền vững được hiểu là việc làm năng suất và mang lại thu nhập đủ sống, có hợp đồng lao động, tham gia và thủ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc.

Cầu lao động Trên thị trường lao động, cầu lao động là lượng lao động mà người sử dụng lao động chấp nhận thuê ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện nhất định (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2013). Cầu lao động là nhu cầu dẫn xuất vì nó được xác luan an 11 định dựa trên nhu cầu sản lượng, khối lượng dịch vụ mà yếu tố lao động được dùng để sản xuất hoặc để hoạt động cung ứng dịch vụ. Cầu lao động được hiểu là số lượng lao động mà các doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng thuê mua ở các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (Vũ Kim Dung, Nguyễn Văn Công, 2013). Tổng cầu lao động của nền kinh tế là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện nhất định.

Trong nghiên cứu này, cầu lao động được hiểu là số lượng lao động cho các vị trí việc làm mà người sử dụng lao động có khả năng và sẵn sàng thuê ở các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định và những điều kiện nhất định. Lý thuyết về ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm Xu hướng thương mại quốc tế ngày càng mở rộng do nhu cầu tiêu thụ và sử dụng hàng hóa trên toàn cầu ngày càng gia tăng, việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia đã thúc đẩy các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Adam Smith đã đề cập đến xu hướng xuất phát từ hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất “sản xuất, vận chuyển và trao đổi” dẫn đến sự phân công lao động trong xã hội giữa những đối tượng có liên quan. Từ đó, việc phân phối lại các nguồn lực theo nguyên tắc lợi thế so sánh có thể sử dụng nguồn lực phù hợp và hiệu quả hơn cho sản xuất.

Kết quả là phản ánh được chi phí các yếu tố đầu vào thấp hơn giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, người tiêu dùng và nhà sản xuất được hưởng lợi từ sự lựa chọn lớn hơn về chất lượng sản phẩm đi kèm tối thiểu hóa chi phí. Như vậy, việc mở cửa thị trường trong nền kinh tế mở sẽ thúc đẩy thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, việc điều chỉnh các yếu tố sản xuất nhằm khai thác lợi thế so sánh có thể dẫn đến một số các DN phải đóng cửa và người lao động mất việc làm tại một số khu vực của nền kinh tế.

Tự do hóa thương mại (TDHTM) làm tăng dòng thương mại quốc tế tại các quốc gia nhưng cũng có thể gắn liền với nguy cơ mất việc làm và chuyển dịch việc làm. Điều này cho thấy, TDHTM sẽ mang lại những hiệu ứng tích cực và tiêu cực đối với việc làm hiện tại và việc lại tiềm năng cả về số lượng và chất lượng trong nền kinh tế. Các lý thuyết thương mại quốc tế truyền thống giả định rằng các quốc gia có năng lực công nghệ, nguồn lực tương đối, các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động có kỹ năng và không có kỹ năng sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế khác nhau ở cấp độ toàn cầu. Do đó, mỗi quốc gia sẽ tận dụng lợi thế có sẵn ở một số luan an 12 nhóm ngành xuất khẩu và cạnh tranh giữa các ngành trong nước và nhập khẩu.

Các ngành xuất khẩu sẽ mở rộng sản xuất và tăng cầu lao động, trong khi các ngành cạnh tranh nhập khẩu sẽ làm giảm sản xuất trong nước và có thể nguy cơ mất việc làm của người lao động. Nhưng các mô hình thương mại truyền thống không quan tâm đến quá trình thương mại hóa dẫn đến nguy cơ mất việc làm và tạo việc làm mới. Người ta cho rằng tất cả người lao động đều được tuyển dụng trước khi TDHTM và những người lao động bị mất việc sẽ tự động chuyển sang công việc mới, vấn đề thất nghiệp liên quan đến thương mại là không phát sinh (Mussa, 1978). Mô hình Ricardan là một trong số những thử nghiệm đầu tiên xác định ảnh hưởng của thương mại đối với việc làm.

Theo mô hình này, mỗi quốc gia sẽ XK mặt hàng có lợi thế nhất định, tức là có giá các yếu tố đầu vào sử dụng trong nước tương đối thấp hơn so với quốc gia khác (hoặc có năng suất cao hơn). Từ đó, thương mại giúp cho mỗi quốc gia mở rộng sản xuất mặt hàng XK dẫn đến lao động cũng được dịch chuyển từ các ngành NK sang ngành XK. Như vậy thương mại quốc tế giúp các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh đối với các ngành hàng XK, mở ra cơ hội việc làm cho các ngành này và cắt giảm việc làm ở các ngành khác. Hiệu ứng ròng từ hoạt động thương mại có thể tích cực hoặc tiêu cực tuỳ thuộc vào đặc điểm của TTLĐ, hiệu quả tăng lên từ quá trình tự do hoá thương mại được kỳ vọng với những ảnh hưởng tích cực đến việc làm khi việc sản xuất của quốc gia đó hiệu quả hơn (Krugman và đồng sự, 2011).

Tác động của thương mại quốc tế tác động đến việc làm còn phụ thuộc vào đặc điểm việc làm và chính sách thị trường lao động trong nước trước và sau quá trình thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tác động của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm ở Việt Nam" của tác giả Phạm Ngọc Toàn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Thế Anh tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2020, tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến thị trường lao động tại Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng thương mại quốc tế không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mới mà còn có thể dẫn đến sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành nghề, ảnh hưởng đến chất lượng việc làm và thu nhập của người lao động. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà các chính sách thương mại có thể được điều chỉnh để tối ưu hóa lợi ích cho người lao động.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh thương mại quốc tế, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn thạc sĩ về quản trị chất lượng tại công ty nhựa đường Petrolimex, nơi đề cập đến quản lý chất lượng trong doanh nghiệp, và Luận văn tốt nghiệp: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần thiết bị và tự động An Phát, bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam.