Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình giáo dục tiểu học miền núi phía Bắc 1. Các công trình nghiên cứu cơ bản về mô hình giáo dục * OECD, 2002, nghiên cứu “Nhà trường cho tương lai” Từ những năm 2000, nhóm các nước công nghiệp phát triển (OECD) đã triển khai nghiên cứu “Nhà trường cho tương lai”. Nghiên cứu này khởi đầu từ các nước phát triển OECD với những đặc điểm của những quốc gia có trình độ phát triển cao về kinh tế, khoa học, công nghệ đã lan tỏa ra nhiều nước, nhiều khu vực trên khắp thế giới, kể cả các nước đang phát triển với những câu hỏi lớn về mô hình nhà trường trong tương lai.
Dựa trên sự phân tích triết lý và các dấu hiệu đặc trưng của nhà trường trong từng giai đoạn phát triển của xã hội, OECD đã khái quát thành 6 mô hình nhà trường như sau: Mô hình quan liêu (Bureaucratic Model) Đây là mô hình giáo dục mang tính bảo thủ cao, khép kín và cô lập. Trong mô hình này, những cấu trúc, thành phần cơ bản ở nhà trường như lớp học, giáo viên được duy trì trong một tổ chức chặt chẽ. Lớp học truyền thống, khép kín. Nhà trường ít quan hệ với cộng đồng.
Mô hình các tổ chức học tập (Learning Organizations) Đây là mô hình nhà trường hiện đại, thích ứng với nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức. Mô hình nhà trường này có nét đặc trưng là sẽ trở thành những tổ chức học tập đa dạng, học tập suốt đời, giáo dục nhà trường thường xuyên đổi mới đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và gắn kết với thực tiễn xã hội. Mô hình nhà trường như là trung tâm xã hội (School as Core Social Centre) Mô hình này thể hiện xu hướng phi tập trung hóa trong phát triển hệ thống nhà trường, hệ thống giáo dục. Nhà trường gắn bó chặt chẽ với cộng luan an 13 đồng.
Mô hình này, nhà trường có chức năng như một trung tâm xã hội, là cơ sở xã hội trong trật tự mới của xã hội, của cộng đồng với hoạt động học tập, giáo dục là cốt lõi. Hệ thống học tập được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, chính quy, phi chính quy. Hoạt động giáo dục có sự tham gia ở mức độ cao của toàn xã hội và mọi lứa tuổi. Ranh giới giữa nhà trường và các con đường học tập , loại hình học tập khác bị xóa bỏ.
Mô hình thị trường mở (The extended Market Model) Dịch vụ giáo dục được đa dạng hóa, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục tư nhân đóng vai trò nổi bật trong mô hình này. Nhà nước đặt ra luật lệ cho quản lý thị trường giáo dục. Giáo dục mang đặc tính của thị trường và sự lựa chọn. Giới hạn tham gia của nhà nước chủ yếu ở bậc học tiểu học và trung học hoặc những vùng khó, những khu vực mà nguồn lực còn hạn chế.
Mô hình học tập trong mạng lưới (Learning in Networks) Đây là mô hình học tập được hình thành trên cơ sở tính đến xu hướng phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên thông tin, môi trường học tập ảo và sự thay đổi mạnh mẽ của các loại hình, tổ chức và các dịch vụ học tập. Trong xã hội tương lai, các mô hình nhà trường truyền thống với đội ngũ giáo viên và các lớp học cố định sẽ bị mất dần do sự không hài lòng của xã hội. Thay vào đó là mạng lưới nhà trường mới, một loại hình nghề nghiệp mới sẽ xuất hiện. Các phương tiện truyền thông và các công ti ICT trở nên tích cực hơn trong mạng lưới học tập qua mạng truyền thông.
* Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), sách Quản lý giáo dục, Nxb. Đại học Sư phạm. Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra khái niệm về mô hình giáo dục và giới thiệu các mô hình giáo dục cụ thể [53, tr26]. Các tác giả đã phân tích lịch sử quá trình phát triển của giáo dục nước ta và các nước trên thế giới, từ đó khái quát thành bốn mô hình phát triển giáo dục.
Các tác giả đã phân tích chỉ ra đặc trưng cơ bản của từng mô hình cụ thể như sau: Mô hình giáo dục tượng trưng, hay còn gọi luan an 14 là mô hình giáo dục tinh hoa (education for elite). Mô hình giáo dục cạnh tranh, hay còn gọi là mô hình giáo dục vì nhân lực (education for manpower). Mô hình giáo dục phục vụ, hay còn có thể gọi là mô hình giáo dục đại chúng (education for mass). Mô hình giáo dục dịch vụ, hay còn gọi là mô hình giáo dục trong xã hội học tập (education in learning society).
Sau khi phân tích bốn mô hình giáo dục, các tác giả đã nhấn mạnh rằng, trong tiến trình phát triển lịch sử giáo dục việc chuyển đổi từ mô hình giáo dục này sang mô hình giáo dục khác về cơ bản mang tính khách quan phù hợp với sự đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng giai đoạn. Mỗi mô hình giáo dục chỉ có thể phù hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn. Việc lựa chọn mô hình giáo dục phù hợp với quy luật phát triển và sự vận động của thực tiễn thể hiện nhận thức và hành động hợp quy luật của các quốc gia. Với quan điểm lịch sử đó, các tác giả khẳng định ở Việt nam hiện nay xu hướng tất yếu là lựa chọn mô hình giáo dục dịch vụ định hướng xã hội chủ nghĩa.
* Trần Thị Hiền Lương, 2018, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Xây dựng mô hình nhà trường phổ thông mới Việt Nam”, mã số B2016- VKG-01 [65]. Đề tài có mục tiêu nhằm xây dựng mô hình nhà trường phổ thông Việt Nam (ở tiểu học và THCS) đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa giai đoạn sau 2015. Đề tài đã làm sáng tỏ một số khái niệm về trường học, giai đoạn học tập, mô hình và mô hình trường học; Phân tích các căn cứ có tính lí luận để xuất mô hình nhà trường phổ thông (cấp tiểu học và THCS); Phân tích tình hình thực tiễn để đề xuất mô hình nhà trường phổ thông (cấp tiểu học và THCS) đảm bảo tính khả thi. * Vũ Trong Rỹ, 2010, đề tài “Phác thảo mô hình trường phổ thông Việt Nam sau 10-15 năm tới” [85].
Tác giả đã phác thảo cấu trúc các nhân tố của nhà trường mới như sau: luan an 15 Mục tiêu của nhà trường: Trên cơ sở mục tiêu của giáo dục phổ thông, nhà trường phải có mục tiêu cụ thể thể hiện rõ triết lý phát triển của nhà trường có sức hấp dẫn với học sinh, cha mẹ, các em và cộng đồng. Quản lý nhà trường: Được quyền tự chủ về nhân sự, tài chính và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trên cơ sở đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch với sự giám sát của tập thể giáo viên và cộng đồng. Tập trung vào quản lý chất lượng. Xây dựng văn hóa nhà trường, duy trì quan hệ nhà trường với cộng đồng.
Nội dung giáo dục: Thực hiện giáo dục toàn diện hướng vào phát triển năng lực học sinh. Nội dung giáo dục được cấu trúc thành các môn học bắt buộc và tự chọn, coi trọng các hoạt động xã hội và nướng nghiệp. Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục: Loại bỏ các phương pháp dạy học nhồi nhét, áp đặt, áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh; dạy cách học, cách tự lực chiếm lĩnh tri thức. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học.
Kiểm tra, đánh giá hướng vào năng lực học sinh. Hình thức tổ chức giáo dục đa dạng, kết hợp cá nhân và hợp tác nhóm; trong lớp, ngoài lớp; trong trường, ngoài trường; chính khóa, ngoại khóa; thực tập, thực hành, tham quan, câu lạc bộ, v.v… Thời lượng học tập: Thời gian học tập tại trường được kéo dài cả ngày, từ 6 đến 7 giờ trong ngày. Phân bổ hợp lý các tiết học và các hoạt động giáo dục khác phù hợp với tính chất môn học, thực tiễn nhà trường và học sinh. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý: Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng được đào tạo về quản lý giáo dục.
Tác giả đã chỉ ra các phẩm chất và năng lực cơ bản cần có của cán bộ quản lý và của người giáo viên. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Nhà trường phải có đủ không gian sư phạm với cơ sở hạ tầng phù hợp cho các hoạt động giáo dục toàn diện. Có đủ thiết bị dạy học và phương tiện kỹ thuật để thực hiện chương trình gió dục phát triển năng lực học sinh. luan an 16 Môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh: Nhà trường kết hợp với địa phương xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp.
Xây dựng bầu không khí tâm lý than thiện, dân chủ, bình đẳng, hợp tác, xây dựng các nối quan hệ lành mạnh giữa các lực lượng trong nhà trường. * Hoàng Ngọc Bạt, 2006, “Bàn về xây dựng mô hình một xã hội học tập” [8] Nghiên cứu phân tích xu hướng phát triển của thời đại và đi đến kết luận rằng, trong xã hội hiện đại, ngoài mô hình giáo dục chính quy còn có mô hình giáo dục cận chính quy và bán chính quy với các dạng khác nhau nhằm tạo cơ hội nâng cao trình độ học vấn cho thanh thiếu niên không có điều kiện học chính quy và cho người lao động. Tác giả khẳng định, mô hình giáo dục suốt đời này đã được áp dụng ở Thái Lan từ năm 1999, ở Nhật Bản từ năm 1990 và ở Hàn Quốc đã bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XX. Các công trình nghiên cứu về mô hình giáo dục tiểu học Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định GDTH là cấp học bắt buộc, cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc gia.
Các quốc gia khác nhau có những mô hình GDTH khác nhau. * LynNell Hancock, 2011, nghiên cứu Vì sao trường học Phần Lan thành công?, Smithonian. Nghiên cứu đề cập đến mô hình giáo dục Phần Lan, trong đó phân tích một số nguyên nhân dẫn tới những thành tích giáo dục đáng kinh ngạc của quốc gia Bắc Âu nhỏ bé này, một hiện tượng đã truyền cảm hứng, gây khó khăn và thậm chí gây “khó chịu” cho nhiều phụ huynh và nhà giáo dục của nước Mỹ.