Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN VÈ GIÁO DỤC 1. Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam – Nhật Bản về giáo dục 1. Chính sách giáo dục của Nhật Bản Nhật Bản được xem là quốc gia có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới, hơn thế nữa đất nước Nhật Bản còn có hệ thống giáo dục hết sức đa dạng và đạt chuẩn chất lượng, so với các nước trên thế giới giáo dục Nhật chỉ xếp sau Mỹ và Anh.
“ Nhật Bản với nền giáo dục mang đậm bản sắc văn hóa phương Đông lâu đời cùng sự kết hợp hài hòa với nền tri thức hiện đại của phương Tây. Tỷ lệ người dân không biết chữ ở Nhật Bản hầu như bằng 0% và hơn 72% học sinh tiếp tục theo học lên trung cấp, cao đẳng, đại học, đạt tỷ lệ tương đương với Mỹ và vượt trên một số nước châu Âu. Điều này chính là “chìa khóa” cho sự phát triển vững mạnh cả về kinh tế lẫn công nghiệp của Nhật Bản hiện nay. Bắt đầu từ những năm 1950, Nhật Bản đã ra sức tập trung xây dựng một nền giáo dục theo kiểu hiện đại.
Hệ thống giáo dục Nhật Bản được thiết lập ngay sau Chiến tranh thế giới II, giữa những năm 1947-1950”và áp dụng thực hiện giống theo hệ thống giáo dục của nước Mỹ, lấy đó làm kiểu mẫu chuẩn, thực thi hệ thống giáo dục gồm 9 năm bắt buộc1 như sau:” - Cấp tiểu học: 6 năm - Cấp trung học cơ sở: 3 năm - Cấp trung học phổ thông (không bắt buộc): 3 năm - Cấp đại học: 4 năm Học sinh sau khi học xong 9 năm bắt buộc ở cấp tiểu học và trung học cơ sở chuyển tiếp giai đoạn lên cấp trung học phổ thông và đại học đạt tỷ lệ 1 Eiichi Aoki, Nhật Bản, Đất nước và con người, Nxb Văn học, tr. 249 8 ngày càng tăng. Hệ thống giáo dục Nhật Bản không ngừng được cải cách và liên tục thay đổi để: Thứ nhất, để phổ cập hóa hệ thống giáo dục cấp tiểu học, giáo dục bắt buộc phải thực hiện. Thứ hai, xây dựng, thành lập nhiều trường đào tạo nghề và tập trung đào tạo các ngành nghề thông dụng (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy sản, dệt may…) cho thanh niên ở cấp bậc trung học cơ sở.
Hai vấn đề ưu tiên chính này là những nền móng căn bản và vững chắc trong việc tạo dựng nguồn nhân lực đảm bảo thực hiện cho kế hoạch “hiện đại hoá” nền kinh tế Nhật Bản.2 Nhật Bản cũng giống với hầu hết“các nước trên thế giới, quá trình phát triển giáo dục luôn phải đi liền với quá trình phát triển của hệ thống chính trị, kinh tế và đời sống văn hóa - xã hội. Từ một xã hội đậm chất phong kiến tập quyền, lối sống khép kín, không giao thương với bên ngoài, kinh tế trì trệ, công nghệ lạc hậu, tài nguyên thiên nhiên vô cùng khan hiếm Nhật Bản đã có sự thay đổi về chính sách, mở cửa giao lưu thông thương bằng những quyết sách cải cách dứt khoát, mạnh mẽ của Thiên hoàng Minh Trị (1868-1912) trên hầu hết tất cả các lĩnh vực liên quan tới đời sống kinh tế - xã hội.” Năm 1871, Nhật Bản lập ra Bộ Giáo dục đầu tiên và chính sách phát triển hệ thống giáo dục cấp tiểu học là bắt buộc, thực hiện công bằng và bình đẳng đối với tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 tuổi, không phân biệt giới tính, tôn giáo, thành phần xã hội được thực hiện… Chính sách này cũng được thực hiện và chỉnh sửa để phù hợp theo từng kỳ. Số năm học bắt buộc được tăng dần từ 3-4 năm (năm 1908) lên thành 6 năm (năm 1908). Trong năm 1899 tỷ lệ học sinh theo học ở bậc tiểu học đã đạt 99%.
Từ năm 1947, giáo dục bắt buộc và hoàn toàn miễn phí trong suốt 9 năm học (từ bậc tiểu 2 Phạm Thị Thanh Bình, “Giáo dục đào tạo Nhật Bản Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam- 2/2013 9 học đến hết trung học cơ sở) được áp dụng thực thi bằng việc ban hành “Luật cơ bản về Giáo dục” và “Luật giáo dục” Nhờ áp dụng chính sách này, từ đầu thế kỷ XX Nhật Bản đã sớm nhanh chóng đạt được thành công việc phổ cập tiểu học bắt buộc cho học sinh. Đây là một thành tựu căn bản về giáo dục mà thời bấy giờ vẫn còn“nhiều nước chưa thực hiện được.” Điểm nổi bật chính là Nhật Bản không áp dụng cải cách theo “kiểu chồng chéo” mà thực hiện áp dụng mô hình đào tạo phân cấp rõ ràng, rạch ròi theo từng cấp bậc, mô hình chuẩn kiểu Hà Lan cho học sinh tiểu học, mô hình kiểu pháp cho cấp trung học và mô hình kiểu Mỹ cho sinh viên đại học, vì đó chính là những nền giáo dục kiểu mẫu tốt nhất và chuẩn mực theo từng cấp học vào thời đó. Năm 1961, trong bộ Luật giáo dục Nhật Bản đã đưa ra những thay đổi về quy định của hệ thống giáo dục dạy nghề, cho phép lập trường cao dẳng chuyên nghiệp quá trình học tập xuyên suốt trong 5 năm (3 năm trung học phổ thông và 2 năm chuyên ngành) và trường cao đẳng với trường dạy nghề cùng hoạt động song hành. Năm 1975 nhu cầu về nguồn nhân lực đang là bài toán cấp bách cần giải quyết nhanh chóng, để đáp ứng nhu cầu thị trường, “Bộ Giáo dục Nhật Bản” cho phép thành lập trường chuyên tu kỹ thuật chủ yếu tập trung đào tạo nhân sự kỹ thuật để bổ sung cho hệ thống “đại học ngắn hạn” (2-3 năm) hay hệ thống đại học chính quy (4 năm).
3 Với mục đích giảm bớt tính cạnh tranh nhau thi đầu vào các trường đại học do tình trạng tăng đột biến dân số ở người trưởng thành (“baby boom” – sự gia tăng trẻ sơ sinh một cách đột biến sau Chiến tranh Thế giới II)4 và đồng thời tạo cơ hội thứ hai cho những học sinh không thi đậu trong các kỳ thi tuyển sinh đầu vào bậc đại học có thêm điều kiện học các trường dạy nghề, hơn nữa rút ngắn được thời gian học hơn so với đào tạo ở bậc đại học. Sinh 3 Phạm Thị Thanh Bình, “Giáo dục đào tạo Nhật Bản Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam- 2/2013 4 Yoshida Kazuo (2005), “The Effect of the Baby Boomer Generation on Japan “, https://atlantic.vn/giao- duc-nhat-ban-tao-ra-nguon-nhan-luc-cho-dat-nuoc-5679 10 viên tốt nghiệp ra trường sớm và nhanh chóng có việc làm ổn định hoặc tiếp tục lựa chọn học lên bậc cao hơn.5 Một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của nền giáo dục Nhật Bản chính là tỷ lệ người dân biết chữ xếp hạng cao nhất thế giới từ sau thế chiến II. Nguồn lao động trẻ Nhật Bản có “trình độ văn hóa cao hơn hẳn so với trước đó. Năm 1950, có hơn 46% học sinh Nhật Bản tốt nghiệp bậc trung học cơ sở và bắt đầu lao động trong độ tuổi 15 tuổi, còn 44% học sinh tiếp tục học lên bậc trung học phổ thông.
Hiện nay, có đến 98% học sinh tại Nhật Bản vẫn tiếp tục học lên đến “trung học phổ thông.” Tại Nhật Bản các trường công lập chiến đa số, hơn 96% - 98% ở cấp tiểu học và trung học cơ sở. Chương trình đào tạo, dạy học ở bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông được Bộ giáo dục ban hành và quản lý sát sao, thường xuyên thanh tra và kiểm soát chặt chẽ. Sau 10 năm, Bộ Giáo dục Nhật Bản lại tiếp tục thực hiện các chính sách và các tiêu chuẩn mới thông qua việc phát hành giáo trình và sách giáo khoa mới, đạt chuẩn với nội dung chi tiết và hướng dẫn rõ ràng, cụ thể đối với từng môn học tại trường tiểu học và các trường trung học cơ sở, làm tiền đề cho giáo viên trong giảng dạy. Việc sửa đổi các chương trình dạy học và nội dung sách giáo khoa này đã được hội đồng chuyên môn là các chuyên gia, giáo sư tại các trường đại học lớn, tập thể giáo viên, ban ngành giáo dục địa phương có nhiều kinh nghiệm trong xã hội cũng như trong giảng dạy đề xuất thực hiện.
Các trường dạy nghề tư nhân chiếm tỷ lệ 85% - 90% trong số các trường dạy nghệ trên toàn nước Nhật, chiếm đa số là ngành công nghệ thông tin được nhiều sinh viên quan tâm và lựa chọn học. Các trung tâm đào tạo chuyên về công nghệ thông tin và kỹ thuật hoạt động riêng biệt ở các thành phố lớn. Các trung tâm này thực hiện nhiệm vụ đào tạo giáo viên 5 Phạm Thị Thanh Bình, “Giáo dục đào tạo Nhật Bản Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam- 2/2013 11 viết tại liệu và nghiên cứu phương pháp giảng dạy. Để sử dụng hiệu quả tối ưu ngân sách nhà nước.
Hiện nay các trung tâm dào tạo công nghệ thông tin được trang bị và lắp đặt các thiết bị tân tiến để phục vụ nhu cầu người học như hệ thông máy vi tính quy mô lớn và các trung tâm cơ khí tiện nghi với nhiều loại hình máy móc tiên tiến, hiện đại nhằm mang lại kết quả tốt nhất cho người học.” Năm 1984 Nhật Bản vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược tiến hành cải cách giáo dục với tư tưởng chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, sẽ thiết lập hệ thống giáo dục suốt đời, không ngừng xây dựng một thế hệ những công dân trẻ phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo và tự chủ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại trong nền kinh tế tru thức vượt bậc với xu hướng toàn cầu hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh của Nhật Bản trên trường quốc tế. Nhờ áp dụng thực hiện đa dạng háo các phương thức Nhật Bản đã đạt được những thành tích đáng nể “trong các kỳ đánh giá chất lượng giáo dục”mang tính quốc tế PISA trong những“năm 2000, năm 2003, năm 2006 và những năm gần đây.” Một trong những điểm mạnh của Nhật Bản so với các nước trong khu vực là về giáo dục nhưng lại có một khuyết điểm nhỏ ảnh hưởng đến khả năng “quốc tế hóa” của nền giáo dục Nhật Bản là vấn đề về rào cản ngôn ngữ. Tiếng Nhật không được sử dụng phổ biến nhiều như tiếng Anh hay tiếng Trung nên việc thu hút sinh viên và quảng bá văn hóa, nền giáo dục cũng gặp phải một số khó khăn và thách thức. Chính những vấn đề này của nền giáo dục đã khiến việc quảng bá rộng rãi tiếng Nhật và hợp tác về giáo dục, giảng dạy tiếng Nhật trở thành ưu tiên hàng đầu và vô cùng quan trọng trong nền giáo dục Nhật Bản.