chương 1 này là: tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu trong nước. Phần tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả đã nêu ra một số công trình có liên quan đến tự chủ đại học, hình thức tự chủ, nội hàm của tự chủ để làm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau. Phần tình hình nghiên cứu trong nước, tác giả chia theo các cấp độ khác nhau như công trình khoa học các cấp, các luận án, luận văn, các kỷ yếu hội thảo và đặc biệt chủ yếu là các bài viết của các tạp chí có liên quan đến vấn đề tự chủ đại học ở Việt Nam. Điều này cho thấy vấn đề này cần được nghiên cứu một cách sâu sắc hơn.
Các tài liệu tiếp cận ở các góc độ khác nhau, chủ yếu về các quyền cụ thể của tự chủ đại học. Tuy nhiên việc tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ một luận án về quyền tự chủ đại học, các điều kiện, quy trình giao quyền tự chủ, giới hạn giao quyền tự chủ, các quy định pháp luật về quyền tự chủ đại học. Từ thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần cung cấp các luận chứng khoa học cho việc kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập. 21 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 2.
Khái niệm, bản chất, vai trò và điều kiện thực hiện qyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập 2. Các khái niệm Theo từ điển tiếng Việt: “Đại học là bậc học trên trung học, dưới cao học” [102]. Với ý nghĩa này có thể hiểu đại học là một cấp học cao có sự thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng được truyền tải bởi người thầy hoặc từ sách vở. Trên cơ sở thực tiễn của Hoa Kỳ và châu Âu, trường đại học nói chung được hiểu là cộng đồng của những người theo đuổi tri thức, tức giảng viên và sinh viên.
Nó được xem là “nơi cung cấp kiến thức”, “ngôi đền của tri thức”, “trung tâm của quyền lực trí tuệ”, “nơi bảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức”, và là một “trung tâm sáng tạo tri thức, xem xét lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức”. Giáo dục đại học (tiếng Anh: higher education – giáo dục bậc cao) [116] là giai đoạn giáo dục thường diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện và viện công nghệ. Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học và sau đại học, gồm cả một số cơ sở giáo dục bậc đại học hay cao đẳng như các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp. Về khái niệm đại học công lập: Theo bách khoa toàn thư của Việt Nam thì Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) 22 đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, được quản lý toàn diện mọi hoạt động bởi cơ quan quản lý của Nhà nước.
Đại học công lập khác với đại học tư thục hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng và được thành lập, quản lý hoạt động bởi các cá nhân là chủ đầu tư của trường. Ở một góc độ khác, Trường đại học công lập được định nghĩa là một cơ sở giáo dục và nghiên cứu, công nhận bằng cấp học thuật ở tất cả các trình độ (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Đặc điểm phổ biến để phân biệt trường đại học công lập với các cơ sở giáo dục, đào tạo phổ cập là sự tự do học tập cho sinh và sự tự do giảng dạy cho giảng viên [73]. Trường đại học công lập được nhà nước, bao gồm trung ương và địa phương cấp kinh phí hoạt động.
Nó thường được quản lý bằng một hội đồng giáo dục đại học hoạt động theo quy định của chính phủ. Tự chủ được hiểu theo nghĩa đời thường là khả năng tự làm chủ bản thân của một sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Hay nói cách khác, tự chủ là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc của mình. Theo từ điển tiếng Việt thì: “Tự chủ là tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình, không bị ai chi phối” [103].
Như vậy, tự chủ là khả năng tự điều hành, quản lý công việc của một cá nhân hay một nhóm người trong tổ chức để đạt được hiệu quả trong công việc. Nói tóm lại, tự chủ là khả năng tự điều hành và quản lý mọi công việc của một cá nhân hay một tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao đạt hiệu quả cao nhất có thể. Theo hai tác giả Anderson and Johnson, Tự chủ đại học (university autonomy) được định nghĩa là sự tự do của một cơ sở giáo dục đại học trong việc điều hành các công việc của trường mà không có sự chỉ đạo hoặc tác động từ bất cứ cấp chính quyền nào [120]. C n theo báo cáo đề dẫn của Debreczeni 23 (2002) trong Hội thảo quốc tế “Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức” thì tự chủ thể chế (institutional autonomy) là điều kiện cho phép một tổ chức giáo dục đại học điều hành hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Tự chủ của cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn không có nghĩa là nó nằm ngoài sự chi phối của luật pháp. Nó là tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở giáo dục đại học. Tự chủ được phân loại như sau: - Tự chủ thực chất (substantive autonomy): trường đại học có quyền xác định các chương trình học tập và mục đích của những chương trình này. - Tự chủ thủ tục (Procedural autonomy): trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các ưu tiên đáp ứng với các nhiệm vụ nằm trong chính sách quốc gia.
- Tự chủ tổ chức (Organic autonomy): trường đại học có quyền xác định các tổ chức học thuật của mình, nên dựa vào các Khoa và Phòng/Ban hay các trường, các viện nghiên cứu,. Các lĩnh vực mà Nhà nước có vẻ như đang giảm dần sự kiểm soát quá trình tập trung vào các mảng như phân bố chương trình, hồ sơ chuyên ngành đào tạo, phân bố sinh viên giữa các chuyên ngành, các điều kiện, các phương tiện và các nguồn lực tham gia vào quá trình đào tạo. Tuy nhiên các hình thức cấp kinh phí sau thẩm định, giám sát thực hiện và thực hiện đánh giá chất lượng được sử dụng nhiều hơn lại thể hiện rằng có sự gia tăng kiểm soát sản phẩm. Như đã trình bày thì tự chủ đại học không phải là một sản phẩm tự thân mà nó gắn liền với các chế độ xã hội khác nhau.
Các nghiên cứu về các mô hình quản trị đại học trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng thường tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nước (cơ quan chủ quản) và cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức độ tự chủ dựa trên mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học đó. Tại các quốc gia rất khác nhau, giáo dục đại học chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau nên 24 tính tự chủ đại học cũng sẽ khác nhau. Điển hình trong báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, báo cáo đã khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi- independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc. Tuy nhiên, trong mô hình do Nhà nước kiểm soát thì cơ sở giáo dục đại học vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn và điều quan trọng nữa là Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.
Trong khi đó, mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở giáo dục đại học. Tại Việt Nam, Nghị định số 16/2015/ND-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 có nêu rõ: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công”. Theo đó, các trường đại học công lập là một đơn vị sự nghiệp công lập thì đồng nghĩa với việc các trường cũng có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Tự chủ đại học được quy định tại Khoản 1, Điều 32 của Luật Giáo dục đại học năm 2012 như sau: “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.
Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục” [51]. Còn theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết tại diễn đàn giáo dục quốc gia năm 2017 thì tự chủ đại học là quyền của cơ sở giáo dục đại học quyết định sứ mạng và chương trình hoạt động của mình, cách thức và phương tiện thực hiện sứ 25 mạng và chương trình hoạt động đó, đồng thời tự chịu trách nhiệm trước công chúng và pháp luật về mọi quyết định cũng như hoạt động của mình. Một khái niệm khác cho rằng: “Tự chủ là một hệ giải pháp có cấu trúc chặt chẽ nhắm đến việc cải thiện môi trường giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học.