Chương I: Chủ trƣơng và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với hệ thống giáo dục trung học phổ thông từ năm 2001 đến năm 2005. Chương II: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển giáo dục trung học phổ thông từ năm 2005 đến năm 2014. Chương III: Nhận xét và bài học kinh nghiệm 7 Footer Page 13 of 107. Header Page 14 of 107.
Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI ĐỐI VỚI HỆ THỐNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 - Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Yên Bái 1.1- Những cơ sở hình thành chủ trương 1.1- Một số quy định đối với giáo dục trung học phổ thông Luật Giáo dục 2005 quy định rõ: Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; - Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; - Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; - Giáo dục đại học và sau đại học. Trong đó, giáo dục trung học phổ thông đƣợc thực hiện trong ba năm học, từ lớp mƣời đến lớp mƣời hai. Học sinh vào học lớp mƣời phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mƣời lăm tuổi. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hƣớng 8 Footer Page 14 of 107. Header Page 15 of 107. nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh. Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Chủ trương chung của Đảng về phát triển giáo dục trung học phổ thông Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp vào thời điểm có ý nghĩa trọng đại: Thế kỷ XX đã kết thúc, thế kỷ XXI vừa bắt đầu. Toàn Đảng, toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện Chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991-2000 và 15 năm Đổi mới. Đại hội IX có nhiệm vụ kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và khuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới, phấn đấu nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, động viên và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vững bƣớc đi vào thế kỷ mới. Đánh giá về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đại hội đã khẳng định: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bƣớc phát triển mới cả về quy mô, chất lƣợng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất Quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân.
Năm học 1999-2000 so với năm 1994-1995, quy mô học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần, học sinh trung học cơ sở gấp 1,6 lần, học sinh trung học phổ thông gấp 2,3 lần, đào tạo đại học gấp 3 lần, đào tạo nghề gấp 1,8 lần. Đến hết năm 2000 có 100% tỉnh, thành phố đạt 9 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu thực hiện chƣơng trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Phong trào học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, ngoại ngữ. phát triển nhanh. Số sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2000 đạt 117 ngƣời, số năm đi học trung bình của dân cƣ là 7,3 năm. Cơ sở vật chất - kỹ thuật các trƣờng đƣợc nâng cấp, cải thiện.
Mạng lƣới trƣờng phổ thông đã đƣợc sắp xếp tƣơng đối ổn định. Hầu hết các xã đã có trƣờng tiểu học; phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trƣờng trung học cơ sở. Các trƣờng ngoài công lập đã hình thành và bắt đầu phát triển mạnh. Hệ thống các trƣờng dân tộc nội trú tỉnh, huyện đƣợc củng cố và mở rộng.
Mạng lƣới các trƣờng đại học, cao đẳng, các trƣờng chuyên nghiệp đang từng bƣớc đƣợc tổ chức, sắp xếp lại. Hệ thống các trƣờng đào tạo nghề phát triển rộng khắp. Chất lƣợng giáo dục và đào tạo có chuyển biến bƣớc đầu. Số đông học sinh, sinh viên có năng lực tiếp thu nhanh các kiến thức, nhất là về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, ngoại ngữ và tin học.
Tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt tiêu chuẩn tăng lên. Hệ thống đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên đƣợc cải tiến, hằng năm trên 80% giáo viên đƣợc đào tạo nâng cao và chuẩn hoá. Việc xã hội hoá trong lĩnh vực này bƣớc đầu đƣợc triển khai. Tiếp tục quán triệt quan điểm Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đại hội lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.” [18, tr 654] Tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học, hệ thống trƣờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá".
Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện 10 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi ngƣời", “cả nƣớc trở thành một xã hội học tập”. Thực hiện phƣơng châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn với xã hội”.
Coi trọng công tác hƣớng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nƣớc và từng địa phƣơng. Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phƣơng thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính. Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phƣơng có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục bậc trung học thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trƣờng phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho ngƣời nghèo có cơ hội học tập, tiếp tục phát triển các trƣờng phổ thông nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số, chú trọng quyền đƣợc học tập của nhân dân ở trên hai nghìn xã nghèo nhất.
Thực hiện chủ trƣơng xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục. Trong những năm trƣớc mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổi chƣơng trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hƣớng “thƣơng mại hoá” giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp văn bằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trƣờng học cả công lập và ngoài công lập. 11 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107.
Nhằm đáp ứng yêu cầu về con ngƣời và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã nhấn mạnh: “Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” [19, tr. Chiến lƣợc cũng khẳng định mục tiêu giáo dục để phát triển toàn diện con ngƣời, nhân tố thúc đấy phát triển kinh tế xã hội: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý.
Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.723] Xác định đƣợc tầm quan trọng của Giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng, ngày 26/7/2002, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ƣơng đã họp để đánh giá và kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII, những nội dung về giáo dục đƣợc trình bày trong Văn kiện Đại hội IX và thông qua Kết luận số 14-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII, phƣơng hƣớng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến 2005 và đến 2010”.