Chương 1: Cơ sở lí luận về chính sách tạo động lực làm vệc cho giáo viên trung học cơ sở; Chương 2: Cơ sở thực tiễn của chính sách tạo động lực làm việc cho giáo viên trung học cơ sở ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp điều chỉnh chính sách tạo động lực làm việc cho giáo viên trung học cơ sở ở Việt Nam. Đóng góp mới của Luận án Luận án đã tổng quan các nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế về chính sách tạo động lực cho GV nói chung và GV THCS nói riêng để vận dụng cho Việt Nam; xác định được khái niệm động lực làm việc của GV THCS và chính sách tạo động lực cho GV THCS cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách tạo động lực cho GV THCS; đã khái quát hoá, cụ thể hoá lý thuyết để quán triệt trong nghiên cứu về chính sách tạo động lực làm việc cho GV THCS. Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã phân tích rõ những ưu điểm và hạn chế của các chính sách về lương, phụ cấp; chế độ làm việc; đánh giá, tôn vinh; phát triển chuyên môn, thăng tiến nghề nghiệp đối với GV THCS; ảnh hưởng của các chính sách đó động lực làm việc của GV THCS. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, động lực làm việc ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của người GV theo các mức độ khác nhau, và như vậy, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục HS.
Kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế là cơ sở đề đề xuất các giải pháp điều chỉnh bốn nhóm chính sách liên quan đến vấn đề: lương, phụ cấp; chế độ làm việc; đánh giá, tôn vinh GV; phát triển chuyên môn và thăng tiến nghề nghiệp của GV THCS. Kết quả khảo nghiệm cho thấy có sự đồng thuận cao đối với các giải pháp. Luận án đề xuất một quy trình đánh giá với bộ chuẩn nghề nghiệp được xây dựng dựa trên việc tham khảo quy trình và Chuẩn nghề nghiệp của Bang Bắc Carolina (Hoa Kỳ), chuẩn GV của một số quốc gia, đồng thời kế thừa bộ chuẩn hiện hành, thích nghi hóa với điều kiện Việt Nam. Kết quả thử nghiệm giải pháp “Điều chỉnh chính sách đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp đối với GV THCS” đã cho kết quả tích cực.
Luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách GD, các nhà quản lý GD trong việc xây dựng và thực thi các chính sách nhằm tạo động lực tốt hơn cho đội ngũ GV nói chung và GV THCS nói riêng; luận án cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác đào tạo cán bộ quản lý GD. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về chính sách 1.
Ở nước ngoài Có thể nói, khoa học chính sách có nguồn gốc từ thuở ban đầu của nền văn minh nhân loại, bởi từ khi loài người có các hoạt động tập thể thì đã xuất hiện sự quản lý các hoạt động đó theo chủ đích rõ rệt. Chính các dự định và hoạt động nhằm hướng tới mục đích đặt ra theo những cách thức nhất định là hình thức sơ khai của hoạt động chính sách. Trong nhiều cuốn sách về lịch sử, chúng ta có thể tìm thấy những tư tưởng về chính sách ẩn chứa trong đó. Tuy nhiên, khoa học chính sách (policy science) là một ngành khoa học, một lĩnh vực nghiên cứu mới, có tính liên khoa học.
Sự xuất hiện của khoa học chính sách là cuộc “cách mạng khoa học” trong quá trình phát triển của khoa học xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai.[13] Sự phát triển nhanh chóng của khoa học xã hội và khoa học kĩ thuật sau Thế chiến thứ hai đã làm xuất hiện hàng loạt ngành khoa học mới, đặc biệt là sự phát triển của phân tích hệ thống và vận trù học đã tạo cơ sở phương pháp luận cho sự ra đời của khoa học chính sách. Khoa học chính sách chỉ thực sự trở thành một ngành khoa học chuyên môn hóa khi nó xác định rõ đối tượng, phạm vi và phương pháp luận của mình. Cuốn sách “Khoa học chính sách: sự phát triển gần đây về phạm vi và phương pháp” [84], cùng với cuốn “Định hướng chính sách” của Harold D. Lasswell [83] đã đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học chính sách bằng sự trình bày phương hướng nghiên cứu chính sách trong khoa học xã hội, cụ thể là đối tượng, tính chất và hướng phát triển của khoa học chính sách.
Cuối những năm 1960, sự gia tăng mạnh mẽ của các chương trình phát triển của các chính phủ các nước, đặc biệt là chính phủ Mỹ đã dẫn đến nhu cầu khách quan về việc phải hoàn thiện các phân tích và đánh giá chính sách. Một loạt các nhà khoa học và chính trị học đã có những cống hiến đáng nghi nhân cho sự phát triển của khoa học chính sách. Trong đó, nổi bật là Yehezkel Dror – người đã công bố một loạt công trình về nghiên cứu chính sách, luận chứng một cách cụ thể về khoa học chính sách, trình bày về đối tượng, phạm vi, tính chất và phương pháp luận của khoa học chính sách. Đến những năm 1980, khoa học chính sách đã có sự tiến bộ mới và thu được những thành tựu rõ rệt về nghiên cứu hệ thống chính sách và quy trình chính sách.
Một số xu hướng nghiên cứu mới xuất hiện như: i) Nghiên cứu quan niệm về giá trị chính sách xét trên các góc độ chính trị học, triết học, lý luận học…;ii) Sự kết hợp ngày càng chặt chẽ 8 giữa khoa học chính sách và hành chính công; iii) Tính xã hội, chính trị và pháp luật trong nghiên cứu chính sách… Ở nhiều nước đã thành lập hàng loạt các viện/tổ chức nghiên cứu chính sách; các tạp chí, báo về chính sách cũng ra đời. Nhiều trường ĐH có khoa chính sách hay chính sách công. “Nhà phân tích chính sách” trở thành một nghề chính thức. Nghiên cứu về chính sách đã được nhiều tác giả thực hiện và nó trở nên phổ biến khi các nghiên cứu này chứng minh được rằng nó đóng góp một ý nghĩa quan trọng trong nhu cầu xây dựng chiến lược phát triển của các quốc gia (Hogwood B.
Nói đến các nghiên cứu chính sách từ sau thập kỷ 80 của thế kỷ 20, người ta thường nhắc đến: Guba [69], Hogwood and Gunn], M. Ramesh [74], … Một trong những nghiên cứu nổi bật về chính sách hợp tác quốc tế về GD ĐH là Tiến Trình Bologna. Đây là một sáng kiến cải cách GD ĐH của các nước Châu Âu. Bản Tuyên bố Bologna (Bologna Declaration) được Bộ trưởng GD của 29 nước Châu Âu ký vào năm 1999 và mở rộng cho các nước khác tham gia khi có nhu cầu.
Đến nay đã có 47 nước là thành viên. Các quốc gia tham gia Tiến trình Bologna theo đuổi mục đích thành lập một khu vực GD ĐH ở Châu Âu với các chuẩn mực về bằng cấp và bảo đảm chất lượng có tính so sánh và tương thích hơn trong toàn Châu Âu đến năm 2010. [128] Một nghiên cứu của Christopher Ziguras [123] đã mô tả về ảnh hưởng của Hiệp ước chung về dịch vụ thương mại (GATS) của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO) đối với GD ĐH xuyên quốc gia bao gồm bốn nước: New Zealand, Australia, Singapore và Malaysia. Nghiên cứu đã chỉ ra các vấn đề mà các quốc gia phải đối đầu khi tự do hóa thương mại trong GD, bao gồm chính sách xuất khẩu GD của các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á và cả những tác động tiềm tàng của các chính sách như tài chính, phương thức tiếp cận, đảm bảo chất lượng, công nhận giá trị bằng cấp/văn bằng, tình trạng chảy máu chất xám và hàng loạt các vấn đề được đặt ra đối với các nhà lãnh đạo GD về vai trò của họ đối với nền GD quốc gia.
Năm 2014, nhằm đánh giá kết quả thực thi chính sách GD nghề và công nghệ, Bộ GD Hoa Kỳ đã thực hiện đánh giá quốc gia đối với Đạo luật này [60] để trình lên Quốc hội. Báo cáo tóm tắt hầu hết các dữ liệu mới nhất về việc thực thi đạo luật này cũng như sự tham gia của HS và kết quả của GD nghề và công nghệ nói chung của Hoa Kỳ. Báo cáo dựa trên kết quả của các báo cáo quốc gia về CTE trước đó cũng như các bằng chứng và các phân tích chính sách có liên quan từ các báo cáo của Cục thống kế Quốc gia. Nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề như sự tham gia của HS vào các chương trình GD nghề và công nghệ trong trường trung học, những thay đổi của đạo luật GD nghề và công nghệ trong việc phân bổ ngân sách, mục tiêu và việc thực thi đạo luật này nhằm 9 nâng cao tính trách nhiệm giải trình của đạo luật cũng như tăng kết quả đầu ra và cơ hội việc làm đối với các HS của chương trình GD nghề và công nghệ.
Một nghiên cứu chính sách GD, tập trung vào GD ĐH của Úc, với sự kết hợp của các chuyên gia chính sách, Trung tâm Nghiên cứu GD ĐH Úc (CSHE) trường ĐH Melbourne được thực hiện vào năm 2013 [86]. Nghiên cứu này tập trung vào hầu hết các vấn đề chính sách chính của GD ĐH ở Úc hiện tại và giai đoạn 3 năm tiếp theo. Kết quả của nghiên cứu nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho việc hoàn thiện và bổ sung chính sách GD ĐH của Úc cũng như giúp cho chính sách đạt được các mục tiêu ban đầu. Trong một nghiên cứu phân tích tác động của các chính sách quốc tế về GD hòa nhập, tiến sĩ Susan J.Peters (trường CĐ GD thuộc ĐH Bang Michigan) đã tiến hành một nghiên cứu về phân tích các văn bản chính sách quốc tế có liên quan đến GD hoà nhập.
Phân tích này bắt đầu với tiền đề rằng các lý thuyết và chính sách tìm cách định hướng cho thực tiễn. Cụ thể, GD hoà nhập đồng thời vừa là triết lý vừa là thực tiễn, dựa trên lý thuyết cụ thể của việc dạy và học. Phân tích này tập trung vào 12 văn bản chính sách quốc tế lớn liên quan đến GD trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật, trong khoảng thời gian khoảng 40 năm. Phân tích cho thấy những tranh luận mâu thuẫn và sự phân mảng, sự diễn dịch lại và sửa đổi chính sách hướng tới quyền lợi của các cá nhân khuyết tật liên quan đến GD cho mọi người (EFA).
Những phát hiện này cung cấp những cái nhìn sâu sắc để tăng hiểu biết về sự bất bình đẳng trong GD hiện tại và sự thiếu tiến bộ của EFA đối với người khuyết tật.