CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CHE DO OM ĐAU TRONG PHÁP LUAT BAO HIEM XA HOI 1. Khai niệm ốm đau Có lẽ khái niệm “ốm đau” không còn xa lạ với mọi người, bởi ai cũng từng mắc phải một lần trong đời, đặc biệt sau khi đại dịch Covid-19 diễn ra, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân toàn cầu, chúng ta càng hiểu rõ 6m đau là gì. Thường một người bị ốm sẽ kèm với bị đau và khi bị đau thì cũng được gọi là bi ốm, nên đây là hai trạng thái của cơ thể có quan hệ mật thiết với nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, 6m đau có thé được hiéu với các nghĩa như: “nhức nhối, khó chịu do bị tồn thương ở chỗ nào do trên cơ thể; bit rút, nhức nhối trong lòng vì quá thương cảm, quá xúc động, hoặc do sức khoẻ yếu, có bệnh, thường xuyên đau ốm.
Như vậy, ôm đau có thể nói là trạng thái không bình thường của cơ thé do bị thương ton ở một bộ phận nào đó, biến đổi về mặt cảm xúc, tâm lý hoặc là tình trạng sức khoẻ bị giảm sút so với thông thường. “Ôm đau” và “bệnh tật” là những khái niệm chỉ tình trạng sức khoẻ không bình thường nói chung trong y học. Nếu như “bệnh tật” là chỉ tình trạng của cơ thé con người dựa trên ý kiến của những người có chuyên môn, các chuyên gia trong lĩnh vực y học và có cơ sở khoa học chứng minh, thì “ốm đau” lại là quan điểm của bản thân người bệnh đối với sức khoẻ của họ. Trong nhiều trường hợp, “ốm đau” và “bệnh tật” có thé hiểu cùng một nghĩa và thay thé cho nhau, đôi khi cũng không thê phân biệt được rõ ràng giữa “ốm đau” và “bệnh tật” vì biểu hiện của chúng gần giống nhau.
Tuy nhiên, theo ngôn ngữ đời sông, “ốm đau” mang nghĩa rộng hơn và có thê dùng luôn cho cả trường hợp “bệnh tật”. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng từ thực tế cho thấy, chắc chăn trong suốt cuộc đời của con người hầu như không ai là không gặp phải. Con người ta có thê cảm nhận được tình trạng sức khỏe bản thân đang bị suy giảm so với bình thường hoặc có thê có những triệu chứng khác không thé tự xử lý mà cần có sự can thiệp của những người có chuyên môn như y, bác sỹ. Tùy vào mức độ, trong hoàn cảnh này, nhu cầu cơ bản của con người sẽ thay đổi và kèm theo là các loại chi phí phát sinh thêm như: ăn uống, đi lại, thuốc thang, điều trị tại các cơ sở y tẾ.
Như vậy, ốm đau ngoài làm giảm sút sức khỏe, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt hằng ngày còn tác động không mấy tích cực đến khả năng lao động của người bị ốm đau. Nếu ốm đau nhẹ thì ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của người lao động, còn 6m đau nặng hơn thì người bị ốm đau phải ngừng công việc đang làm. Điều này ảnh hưởng đến thu nhập của chính bản thân người lao động cũng như của cơ quan, tổ chức là người sử dụng lao động. Chúng ta phải công nhận rằng 6m đau chính là một rủi ro rất phô biến mà con người không hề mong muốn hiện tượng này xảy ra với bản thân họ.
Nhiều hiện tượng có thể xảy ra khi một người bị ốm đau như: đau mỏi, khó chịu, mệt mỏi, nhức nhi. và khiến người bị ốm đau không thể lao động một cách bình thường được. Đây là nguyên nhân dẫn đến những người này phải ngừng làm việc ở nhà để nghỉ ngơi hoặc phải đến các cơ sở y tế để chữa trị can thiệp. Chính vì phải nghỉ việc, nên thu nhập của người lao động trong khoảng thời gian sẽ không được đảm bảo.
Bên cạnh đó, người lao động còn phải trả thêm các chi phí như: thuốc men, khám bệnh, chữa bệnh. Trong một số trường hợp tình trạng sức khỏe không đảm bảo cho việc tự chăm sóc bản thân thì lại cần có người thân giúp đỡ chăm lo, điều này cũng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, thời gian, thu nhập của người thân họ. Lý luận về chế độ ốm đau 1. Khái niệm chế độ 6m dau Bao hiểm ốm đau hay nói cách khác là trợ cấp 6m đau có thé được hiểu là sự bảo đảm hoặc thay thế về thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khi người lao động bị ốm đau, bệnh tật (nguyên nhân khách quan, không phải do công việc) làm mắt khả năng lao động dẫn đến bị mat hoặc giảm thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định.
Chế độ ốm đau ra đời với mục đích bảo vệ người lao động trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động do rủi ro ốm đau gây ra dẫn đến thu nhập bị gián đoạn. Chế độ này giúp người lao động có thể ổn định cuộc sống một cách nhanh chóng, từ đó góp phan đảm bảo an sinh xã hội. Có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm ốm đau được đưa ra trong suốt quá trình nghiên cứu về chế độ này như: “Bảo hiểm 6m dau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động (người tham gia bảo hiểm xã hội) tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì 6m dau, tai nạn không liên quan đến nghé nghiệp hoặc nghỉ để chăm sóc con m ”[13,tr220]. Hay là: “Bảo hiểm 6m dau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động (người tham gia bảo hiển xã hội) tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì 6m dau, tai nan, chăm sóc con 6m theo quy định của pháp luật”[14, tr134].
Như vậy có thé thấy quan niệm về bảo hiểm 6m đau tại Việt Nam là đảm bảo thu nhập cho người lao động tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì bị ốm đau hoặc nghỉ chăm sóc con 6m. Có thé thấy, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về chế độ ốm đau, nhưng theo cá nhân tôi, bảo hiểm ốm đau là một chế độ bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ một phan thu nhập bị mat hoặc giảm cho người lao động trong thời gian họ phải nghỉ việc do bị ốm đau, bệnh tật hoặc phải nghỉ việc dé chăm sóc con nhỏ bị ốm. Có nhiều hình thức để hỗ trợ như trợ cấp tiền mặt hoặc trợ cấp về dịch vụ y tế như: khám, chữa bệnh, điều trị, thuốc men. Nguyên tắc của chế độ 6m dau Thứ nhất, chế độ 6m đau được áp dụng cho tat cả người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong mọi trường hợp bị giảm, mat khả năng lao động hoặc mất việc làm do ốm đau, bệnh tật hoặc có con nhỏ bị 6m đau.
Khi gap rủi ro, con người sẽ có nhu cầu cần được chia sẻ với những người xung quanh, chính vì vậy việc tham gia bảo hiểm xã hội người lao động và hưởng chê độ ôm đau khi bị ôm đau, bệnh tật và nhận được được sự san sẻ, hỗ trợ của cộng đồng khi bị giảm sút khả năng lao động hoặc mat việc làm chính là một nhu cầu chính đáng của mọi người lao động. Đây là một trong các phương thức thê hiện rõ nhất quyền con người khi quyền bình đăng cho người lao động trên phương diện an sinh xã hội được bảo đảm, nhất là khi Nhà nước đứng ra bảo trợ bảo hiểm xã hội. Dé xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội cho một đất nước thì Nhà nước cần phải tạo điều kiện về nhiều mặt như: môi trường kinh tế - xã hội,chính sách và luật pháp, tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết. Bên cạnh đó, sự đóng góp tài chính của người sử dụng lao động và người lao động là một phần không thé thiếu.
Thực hiện trách nhiệm đóng góp bảo hiểm xã hội là điều kiện cơ bản nhất dé người lao động được hưởng quyền bảo hiểm xã hội, trong đó có chế độ 6m đau. Hưởng bảo hiểm ốm đau chính là quyền của người lao động, họ được hưởng trợ cấp của Nhà nước khi gặp phải sự rủi ro ốm đau, tật mà phải tạm thời nghỉ việc theo các chế độ cụ thê. Tung chế độ này sẽ được gan với các trường hợp người lao động bị giảm, hoặc mat khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật, tai nạn mà không phải tai nạn lao động. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà mức hưởng sẽ được quy định một cách phù hợp và có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của bảo hiểm xã hội và đất nước.
Thứ hai, chế độ ôm dau được thực hiện trên cơ sở số đông bù số it tức là sử dụng xác suất rủi ro theo quy luật số lớn, lay sự đóng góp của số đông người tham gia san sẻ cho số ít người không may gặp rủi ro. Đối với chế độ ốm đau, những người không may gặp rủi ro chính là những người bị ốm đau, bệnh tật. Và chỉ những người tham gia đóng góp bảo hiém xã hội bắt buốc vơi tư cách là người lao động mới là đối tượng được hưởng trợ cấp khi họ đủ điều kiện mà pháp luận quy định. Do nhiều nguyên nhân, có những người lao động đã tham gia đóng góp từ rất lâu và có những người chỉ mới tham gia đóng góp trong một thời gian ngắn.
Chính vì vậy, có những trường hợp người lao động nhận được số tiền trợ cấp lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ. Cách duy nhất đề thực hiện điều này là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham 10 gia để bù cho số ít người bị rủi ro, cần được hưởng trợ cấp. Một số người lao động chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp tại một thời điểm nhất định, nhưng quá trình làm việc lâu dài cả đời, chắc chắn ở một thời điểm khác sau này họ cũng cần được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. Khi đó, phần trợ cấp mà người lao động được hưởng cũng là nguồn từ nhiều người khác đóng góp.
Và đây cũng chính là nguyên tắc hoạt động của chế độ 6m đau. Thứ ba, mức hưởng bảo hiểm ốm đau thường phải thấp hơn mức tiền lương lúc dang đi làm, tuy nhiên, mức thấp nhất phải đảm bảo được tối thiêu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sông của người lao động và gia đình họ. Nguyên tắc này đóng vai trò cực kì quan trọng khi quy định mức hưởng chế độ ốm đau cho người lao động.