Sự phát triển hình thái kinh tế xã hội và ý nghĩa đổi mới hiện nay

Tìm hiểu hình thái kinh tế xã hội và đổi mới. Ý nghĩa phương pháp luận, phân tích sự tác động, mối liên hệ biện chứng trong phát triển kinh tế.

Trường đại học

Trường Đại học Đồng Tháp

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận triết học

2024

47
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế Xã Hội Tổng Quan Giá Trị

Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong những phát kiến quan trọng của Mác. Đây là sự vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc nghiên cứu xã hội và lịch sử, làm sáng tỏ cơ sở vật chất, cơ cấu tổng thể và quy luật phát triển của xã hội loài người. Học thuyết này cung cấp cơ sở lý luận triết học cho việc xác định và giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam trong quá khứ và hiện tại. Đồng thời, nó cung cấp ý nghĩa phương pháp luận cho việc nghiên cứu các ngành khoa học xã hội. Phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng giúp khắc phục những sai lầm của các quan điểm duy tâm, tôn giáo và duy vật siêu hình trong nghiên cứu về xã hội. Học thuyết này có giá trị khoa học và cách mạng to lớn, là cơ sở để nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nó giúp ta hiểu rõ về sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, từ đó vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, vào tình hình thực tế của địa phương. Học thuyết này khẳng định rằng sản xuất vật chất là nền tảng của mọi xã hội và sự thay đổi trong phương thức sản xuất dẫn đến sự thay đổi trong toàn bộ cấu trúc xã hội. Điều này trái ngược với các quan điểm duy tâm, coi ý thức hoặc tinh thần là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là “hòn đá tảng” của chủ nghĩa duy vật lịch sử… Đó là sự vận dụng những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại'.

1.1. Tiếp Cận Duy Vật và Duy Tâm về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Trong lịch sử triết học, việc nghiên cứu về xã hội thường xuất phát từ quan điểm duy tâm, coi ý thức, tinh thần, hoặc tư duy là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, Mác và Ăngghen đã đưa ra phương pháp tiếp cận duy vật, cho rằng cơ sở vật chất của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất, mới là yếu tố then chốt. Phương pháp luận duy vật giúp giải thích đúng tiến trình vận động, phát triển của nhân loại và sự phát triển của xã hội đương đại. Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều công trình nghiên cứu về xã hội và lịch sử. Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu rằng lịch sử phát triển của xã hội loài người có cơ sở quyết định từ lịch sử phát triển của trình độ văn minh trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội.

1.2. Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế Nền Tảng và Nội Dung Cơ Bản

Học thuyết hình thái kinh tế xã hội tập trung vào việc phân tích cấu trúc của xã hội, bao gồm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuấtkiến trúc thượng tầng. Học thuyết này khẳng định rằng phương thức sản xuất quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội và sự vận động, phát triển của toàn bộ lịch sử nhân loại. Việc phát hiện ra vai trò quyết định của phương thức sản xuất cho phép Mác phác họa lịch sử phát triển của xã hội loài người qua lịch sử phát triển, thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất từ trình độ thấp đến cao. Theo Mác, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển cần dân của các hình thái kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận duy vật giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về xã hội, không chỉ tập trung vào các yếu tố kinh tế mà còn xem xét các yếu tố chính trị, văn hóa và tư tưởng trong mối quan hệ biện chứng với nhau.

II. Đổi Mới và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Thách Thức và Giải Pháp

Việc đổi mới đòi hỏi phải có một ý nghĩa phương pháp luận rõ ràng để định hướng cho các chính sách và hành động. Một trong những thách thức lớn nhất là làm thế nào để đảm bảo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp, nó sẽ trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này đòi hỏi phải có những cuộc cải cách hoặc cách mạng để thay đổi quan hệ sản xuất. Ngoài ra, cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu kiến trúc thượng tầng không phù hợp, nó sẽ gây ra những trở ngại cho sự phát triển. Do đó, cần phải có những chính sách và pháp luật phù hợp để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin cung cấp ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề này. Nó giúp chúng ta hiểu rõ về các quy luật phát triển của xã hội và cách thức vận dụng chúng vào thực tiễn. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chủng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mậu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… Từ chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất đó trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất'.

2.1. Vận Dụng Ý Nghĩa Phương Pháp Luận vào Sự Nghiệp Đổi Mới ở Việt Nam

Việc vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự sáng tạo và linh hoạt. Cần phải xem xét cụ thể điều kiện lịch sử, văn hóa và kinh tế của Việt Nam để đưa ra những chính sách phù hợp. Đồng thời, cần phải kiên định mục tiêu định hướng chủ nghĩa xã hội, không được đi chệch khỏi con đường đã chọn. Việt Nam cần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

2.2. Đổi Mới và Hội Nhập Quốc Tế Cơ Hội và Thách Thức

Trong bối cảnh toàn cầu hóahội nhập quốc tế, việc đổi mới càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Việt Nam cần phải tận dụng cơ hội để thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, cũng cần phải đối mặt với những thách thức như cạnh tranh gay gắt, biến động kinh tế và các vấn đề xã hội. Để vượt qua những thách thức này, cần phải có những chính sách và giải pháp phù hợp, đồng thời phải nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

III. Chủ Nghĩa Mác Lênin Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội

Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, việc xác định mục tiêu, nội dung và biện pháp cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đòi hỏi sự sáng tạo và vận dụng linh hoạt các nguyên lý vào bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước. Trong giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 đến nay), tinh thần này được thể hiện rõ nét nhất. Dù trải qua nhiều biến động, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu hướng tới chủ nghĩa xã hội, đồng thời không ngừng nghiên cứu, phát triển và áp dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế. Quyết tâm này được thể hiện mạnh mẽ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), khẳng định con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) đã xác định: Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kì quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng lắng về chính trị, tư tưởng, vẫn hoá phù hợp…'.

3.1. Mục Tiêu và Đặc Trưng của Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định mục tiêu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Việc kiên định mục tiêu định hướng chủ nghĩa xã hội là đúng đắn để thực hiện mục tiêu đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng, khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và từng bước phát triển đến những đỉnh cao mới của một xã hội mà chúng ta đã lựa chọn. Xã hội đó được đặc trưng bởi dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3.2. Con Đường Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam

Việt Nam lựa chọn con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bằng qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuấtkiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng có sự tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nên kinh tế hiện đại. Con đường quá độ như vậy có thể tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Đây là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên nhất định phải trải qua một thời kì quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất qua độ.

IV. Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Đổi Mới

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là nhiệm vụ trọng tâm. Đây là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp hiện đại, dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất tiên tiến. CNH, HĐH không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là quá trình biến đổi xã hội sâu sắc, đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy, nhận thức và hành động của toàn xã hội. Quá trình này cần được thực hiện một cách bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa và đảm bảo an sinh xã hội. Việc rút ngắn thời gian CNH, HĐH là một thách thức lớn, đòi hỏi phải có những bước đi sáng tạo, tận dụng tối đa lợi thế của nước đi sau và khai thác hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Trong các văn kiện gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước'.

4.1. Phương Thức Thực Hiện Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa ở Việt Nam

Việt Nam thực hiện CNH, HĐH theo phương thức có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt; phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghiệp tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH.

4.2. Vai Trò của Khoa Học và Công Nghệ trong Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa

Khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò then chốt trong việc triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển KH&CN nhằm mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, KH&CN càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Việt Nam cần phải đầu tư mạnh mẽ vào KH&CN, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, để tạo ra những đột phá trong phát triển kinh tế xã hội.

V. Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Đột Phá Tư Duy

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có sự nhận thức lại về bản chất và vai trò của kinh tế thị trường (KTTT) trong quá trình thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một bước phát triển tư tưởng của Lênin về việc sử dụng kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hàng hoá trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kì quá độ. Khái niệm KTTT dùng để chỉ trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, được đặc trưng bởi phương thức phân bố các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế không tuân theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mà là theo cơ chế thị trường. KTTT tự nó không mang tính giai cấp nhưng việc sử dụng KTTT theo mục đích nào thì nó lại có thể mang tính giai cấp. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Trong thời kì đổi mới, đã có sự nhận thức lại về bản chất và vị trí, vai trò của kinh tế thị trường trong quá trình thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một bước phát triển tư tưởng của Lênin về việc sử dụng kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hàng hoá trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kì quá độ'.

5.1. Bản Chất của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Sự khác nhau cơ bản giữa KTTT tư bản chủ nghĩa và KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là ở hai điểm cơ bản, đó là sự khác nhau về mục tiêu xã hội và về vai trò của quan hệ sản xuất nên tảng trong nền KTTT. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong điều kiện hiện nay, cần phải có sự thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó là nền KTTT định hướng XHCN.

5.2. Các Thành Phần Kinh Tế và Vai Trò của Nhà Nước trong Kinh Tế Thị Trường

Trong nền KTTT định hướng XHCN, các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Nhà nước quản lí nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.

VI. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Học Thuyết vào Thực Tiễn

Việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào thực tiễn đòi hỏi cần nhận thức rõ quá trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, do đó cần phải tuân thủ các quy luật khách quan, tránh duy ý chí, chủ quan, nóng vội. Nắm vững vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với đời sống xã hội, từ đó có những chính sách phù hợp để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Cần luôn luôn bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp, tránh xa rời thực tế, máy móc, giáo điều. Coi trọng vai trò của con người, phát huy tối đa tiềm năng và sức sáng tạo của con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trích dẫn tài liệu gốc: 'Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất…'.

6.1. Xây Dựng và Hoàn Thiện Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp

Nhận thức rõ vai trò tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất, từ đó không ngừng xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quan tâm xây dựng đồng bộ hệ thống chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội phù hợp với cơ sở kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển, bảo đảm sự công bằng, dân chủ và văn minh của xã hội.

6.2. Phát Huy Tính Năng Động Sáng Tạo trong Vận Dụng

Quá trình vận dụng phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và từng địa phương. Cần kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, giữa kinh nghiệm trong nước và kinh nghiệm quốc tế. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá và rút kinh nghiệm trong quá trình vận dụng, kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót, bất cập. Cần chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Phương pháp tiếp cận duy vật và duy tâm về xã hội + Một hệ thống lí luận có giá trị khoa học hay không trước hết phụ thuộc chủ yếu vào việc lựa chọn điểm xuất phát của hệ thống lí luận đó và cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đặt ra theo lập trường triết học nào, duy vật hay duy tâm, từ đó tất yếu dẫn tới sự hình thành hệ thống quan điểm duy vật hay duy tâm về đối tượng mà nó nghiên cứu. + Nói chung, trong lịch sử các triết gia phương Đông và phương Tây đều xác định "con người" phải là điểm xuất phát của công việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử, bởi vì chính con người là chủ thể làm ra lịch sử và chính sự liên kết những con người với nhau mới có thể tạo ra những tổ chức cộng đồng xã hội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 5 (gia đình, quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, mặc dù đều coi con người là xuất phát điểm của việc nghiên cứu về xã hội, nhưng các triết gia lại có lập trường triết học khác nhau, tức cách tiếp cận khác nhau (duy vật hay duy tâm; cụ thể hơn là duy vật siêu hình bay duy vật biện chứng) 1.

Phương pháp tiếp cận duy tâm về xã hội. + Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về xã hội và giải thích sự vận động, phát triển của lịch sử nhân loại trong lịch sử triết học trước Mác căn bản là cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm về xã hội, về lịch sử (bao gồm cả quan điểm duy tâm khách quan và chủ quan). Có thể gọi đó là phương pháp luận duy tâm về xã hội hay quan điểm duy tâm về lịch sử. Theo phương pháp luận này, việc luận chứng cho mọi vấn đề thuộc đời sống xã hội đều không truy nguyên tử cơ sở vật chất của đời sống xã hội hiện thực mà là từ ý thức, tinh thần, tư duy của những cá nhân hay cộng đồng xã hội (duy tằn chủ quan) hoặc từ “Y niệm tuyệt đối”, “Tinh thần tuyệt đối (duy tâm khách quan).

+ Điển hình cho quan điểm duy tâm về xã hội trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ – trung đại là quan điểm của Nho gia – một học phải được sáng lập bởi Khổng Tử thời Xuân Thu và đã được hoàn thiện bởi Mạnh Tử thời Chiến Quốc cũng như của các nhà tư tưởng thuộc Nho gia trong lịch sử hơn hai nghìn năm sau đó. Lí luận nền tảng của Nho gia để nghiên cứu về xã hội là học thuyết về bản tính thiện của con người. Nho gia nghiên cứu về bản tinh thiện của con người căn bản từ góc độ tư tưởng chính trị, đạo đức. + Nó tuyệt dối hoá vai trò của tư tưởng chính trị, đạo đức của con người và coi đó là cái căn bản nhất của con người.

Theo học thuyết này, bản tinh vốn có và đặc trưng cho con người là giá trị tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn - đô là các hệ giá trị Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và tất cả các quan hệ giữa con người với nhau, tức các quan hệ xã hội đều được quy về các quan hệ chính trị, đạo đức cơ bản, được gọi là Tam cương và mở rộng ra là Ngũ luân; đó là các quan hệ chính trị, đạo đức giữa: vua với bé tôi (quân thần), cha với con (phụ tử), chồng với vợ (phu phụ), anh với em trong gia tộc (huynh đệ) và quan hệ bè bạn ngoài gia tộc (bằng hữu). Với cách tiếp cận đó, các nhà tư tưởng của Nho gia đã xây dựng học thuyết Nhân trị (hay đường lối Nhân trị, Đức trị. Lễ trị, Văn trị). Mục đích của học thuyết này là xây dựng một xã hội hưng trị trên nền tảng giải quyết hài hoà các quan hệ Ngũ luân bằng các biện pháp chấn hưng nền quốc học với nội dung chính yếu là giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho mỗi con người với mục tiêu từ vua chúa tới dàn thường ai cũng có thể phát huy được bản tính thiện vốn có của mình và có thể trở thành con người lí tưởng theo mẫu hình người quân tử.

Bởi vậy, có thể nói đường lối Nhân trị của Nho gia là Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 6 đường lối theo chủ nghĩa nhân văn. Tuy nhiên, dù có giá trị nhân văn sâu sắc thì tính không tưởng của nó vẫn là đặc trưng cơ bản trong quan điểm triết học của Nho gia về xã hội. Cách tiếp cận đó cho thấy: về cơ bản, cách tiếp cận của Nho gia trong nghiên cứu về xã hội thuộc quan điểm duy tâm chú quan. + Trong lịch sử triết học phương Tây, cách tiếp cận duy tâm về xã hội chi phối hầu hết các học thuyết triết học của các triết gia tử Hy Lạp cổ đại đến các học thuyết xã hội của các triết gia thời cận đại ở Tây Âu (Anh, Pháp, Đức).

Nhưng tiêu biểu nhất cho cách tiếp cận theo lập trường duy tâm là cách tiếp cận của Hegel – một đại biểu lớn nhất thuộc về chủ nghĩa duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức. + Theo triết học Hegel, giới tự nhiên và xã hội không phải là tồn tại thứ nhất mà trái lại, nó chỉ là tồn tại thứ hai – là sự "tha hoa" (là tồn tại khác, dưới hình thái vật chất tự nhiên) của tồn tại thứ nhất - đó là Ý niệm tuyệt đối tự vận động trong bản thân nó. Với quan niệm đó, lịch sử nhân loại không phải là lịch sử của sự tiến hoá, phát triển theo các quy luật khách quan của xã hội hoặc trên cơ sở nhu cầu phát triển sản xuất vật chất vốn có của xã hội, mà chỉ là giai đoạn tự vận động, phát triển cao nhất của Ý niệm tuyệt đối thành Tinh thần tuyệt đối, tức giai đoạn mà Ý niệm tuyệt đối sau quá trình tự vận động, tha hoá thành tồn tại giới tự nhiên đã trở về với chính nó, tìm được tính thống nhất trong bản thân nó. Trong Triết học tỉnh thần (bộ phận lí luận thứ ba trong hệ thống triết học của Hegel), ông đã trình bày tiễn trình phát triển của lịch sử nhân loại với tư cách là lịch sử tự phát triển của Tinh thần”, từng bước trải qua ba nấc thang của sự phát triển: từ “Tinh thần chủ quan” (tức là cái tinh thần trong quan hệ với chính bản thân nó, cũng tức là nói đến cái tinh thần gắn với mỗi con người với tư cách là mỗi cá thể người) đến "Tinh thần khách quan” (tức là cái tinh thần thể hiện dưới các binh thái thực tại xã hội; đó là gia đình, xã hội công dân và nhà nước) và cuối cùng đạt tới "Tinh thần tuyệt đối” (tức là đạt tới sự thẳng nhất hoàn toàn, tuyệt đối giữa tinh thần khách quan và tinh thần chủ quan cũng tức là mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan đã được khắc phục, đã được vượt qua và tìm lại sự thống nhất vẫn có của nó trong Ý niệm tuyệt đối).

Với cách tiếp cận theo lập trường duy tâm đó, lịch sử hiện thực của nhân loại trong tính biểu hiện phong phú, đa dạng của nó không phải là lịch sử của sự phát triển khách quan của những quan hệ vật chất của đời sống xã hội mà đó chỉ là “sự tha hoá của cái “Tinh thần” tự thân vận động theo phương thức tự phản đối và tự khắc phục mâu thuẫn vốn có của nó để đạt được sự thống nhất phi mâu thuẫn, tức trở về với bản tính đóng nhất vốn có của nó trong Ý niệm tuyệt đối mà theo Hegel, tính thống nhất tuyệt đối ấy, rốt cuộc được thể hiện đây dù trong hình thái nghệ Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 7 thuật, tôn giáo và triết học. Phương pháp tiếp cận về xã hội và lịch sử nhân loại của Hegel phủ hợp với phương pháp biện chứng duy tâm của ông. Giá trị lớn nhất trong cách tiếp cận này là phương pháp biện chứng trong phần tích về sự phát triển của lịch sử nhân loại. Hegel là triết gia đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã đưa quan điểm phát triển theo cách nhìn biện chứng vào việc mô tả lịch sử nhân loại, tuy nhiên theo cách lí giải trên lập trường duy tâm khách quan.

Phương pháp tiếp cận duy tâm của Hegel trong nghiên cứu về xã hội và lịch sử đã được các nhà triết học Đức ở thế kỉ XIX phê phán, trong đó tiêu biểu là sự phê phán của nhà triết học Feurbach và một số đại biểu khác của *Nhóm Hegel trẻ” (Bauer, Stirner). Tuy nhiên, khi phê phán cách tiếp cận duy tâm trong triết học Hegel, Ferbach cũng như các đại biểu của nhóm Hegel trẻ vẫn không thể vượt qua cách tiếp cận duy tâm về lịch sử. Sự phê phán của các nhà triết học đó chỉ là thay thế phạm trù "Ỵ niệm tuyệt đối hay “Tinh thần tuyệt đối” trong triết học Hegel bằng những phạm trù mới thuộc lĩnh vực ý thức của con người như "Tình yêu” (quan niệm của Teurbach) hay Tự ý thức” (quan niệm của Bauer) hoặc "Cái Tôi duy nhất (quan niệm của Stirner). Tuy nhiên, sự phê phán này chỉ là chuyển từ cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm khách quan của Hegel sang cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm chủ quan về xã hội và lịch sử.

Phương pháp tiếp cận duy vật về xã hội + Những ý tưởng tiếp cận duy vật trong nghiên cứu về xã hội đã xuất hiện rõ trong một số học thuyết triết học của các nhà duy vật thời cận đại Tây Âu, điển hình là trong một số học thuyết của các triết gia nước Pháp (như Lametri, Diderot, Holbach.) và nước Anh (như Bacon, Hobbes. Những tư tưởng duy vật ấy đã được Feurbach kế thừa và phát triển trong nền triết học cổ điển Đức. Cách tiếp cận trong nghiên cứu về xã hội và lịch sử của các triết gia thời cận đại Tây Âu và của Teurbach còn có nhiều hạn chế trong đó hạn chế lớn nhất là họ đã sử dụng phương pháp siêu hình để nghiên cứu về xã hội và lịch sử. Trong những phạm vi nhất định, họ đã thấy được vai trò quyết định của nhân tố kinh tế đối với sự phát triển xã hội; vai trò của hoàn cảnh.

Toàn bộ những quan hệ ấy tạo thành cái cơ sở hiện thực làm nảy sinh hệ thống các quan hệ giữa con người với nhau thuộc thiết chế thượng tầng kiến trúc chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ