CHƯƠNG I: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Phương pháp tiếp cận duy vật và duy tâm về xã hội + Một hệ thống lí luận có giá trị khoa học hay không trước hết phụ thuộc chủ yếu vào việc lựa chọn điểm xuất phát của hệ thống lí luận đó và cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đặt ra theo lập trường triết học nào, duy vật hay duy tâm, từ đó tất yếu dẫn tới sự hình thành hệ thống quan điểm duy vật hay duy tâm về đối tượng mà nó nghiên cứu. + Nói chung, trong lịch sử các triết gia phương Đông và phương Tây đều xác định "con người" phải là điểm xuất phát của công việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử, bởi vì chính con người là chủ thể làm ra lịch sử và chính sự liên kết những con người với nhau mới có thể tạo ra những tổ chức cộng đồng xã hội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 5 (gia đình, quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, mặc dù đều coi con người là xuất phát điểm của việc nghiên cứu về xã hội, nhưng các triết gia lại có lập trường triết học khác nhau, tức cách tiếp cận khác nhau (duy vật hay duy tâm; cụ thể hơn là duy vật siêu hình bay duy vật biện chứng) 1.
Phương pháp tiếp cận duy tâm về xã hội. + Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về xã hội và giải thích sự vận động, phát triển của lịch sử nhân loại trong lịch sử triết học trước Mác căn bản là cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm về xã hội, về lịch sử (bao gồm cả quan điểm duy tâm khách quan và chủ quan). Có thể gọi đó là phương pháp luận duy tâm về xã hội hay quan điểm duy tâm về lịch sử. Theo phương pháp luận này, việc luận chứng cho mọi vấn đề thuộc đời sống xã hội đều không truy nguyên tử cơ sở vật chất của đời sống xã hội hiện thực mà là từ ý thức, tinh thần, tư duy của những cá nhân hay cộng đồng xã hội (duy tằn chủ quan) hoặc từ “Y niệm tuyệt đối”, “Tinh thần tuyệt đối (duy tâm khách quan).
+ Điển hình cho quan điểm duy tâm về xã hội trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ – trung đại là quan điểm của Nho gia – một học phải được sáng lập bởi Khổng Tử thời Xuân Thu và đã được hoàn thiện bởi Mạnh Tử thời Chiến Quốc cũng như của các nhà tư tưởng thuộc Nho gia trong lịch sử hơn hai nghìn năm sau đó. Lí luận nền tảng của Nho gia để nghiên cứu về xã hội là học thuyết về bản tính thiện của con người. Nho gia nghiên cứu về bản tinh thiện của con người căn bản từ góc độ tư tưởng chính trị, đạo đức. + Nó tuyệt dối hoá vai trò của tư tưởng chính trị, đạo đức của con người và coi đó là cái căn bản nhất của con người.
Theo học thuyết này, bản tinh vốn có và đặc trưng cho con người là giá trị tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn - đô là các hệ giá trị Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và tất cả các quan hệ giữa con người với nhau, tức các quan hệ xã hội đều được quy về các quan hệ chính trị, đạo đức cơ bản, được gọi là Tam cương và mở rộng ra là Ngũ luân; đó là các quan hệ chính trị, đạo đức giữa: vua với bé tôi (quân thần), cha với con (phụ tử), chồng với vợ (phu phụ), anh với em trong gia tộc (huynh đệ) và quan hệ bè bạn ngoài gia tộc (bằng hữu). Với cách tiếp cận đó, các nhà tư tưởng của Nho gia đã xây dựng học thuyết Nhân trị (hay đường lối Nhân trị, Đức trị. Lễ trị, Văn trị). Mục đích của học thuyết này là xây dựng một xã hội hưng trị trên nền tảng giải quyết hài hoà các quan hệ Ngũ luân bằng các biện pháp chấn hưng nền quốc học với nội dung chính yếu là giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho mỗi con người với mục tiêu từ vua chúa tới dàn thường ai cũng có thể phát huy được bản tính thiện vốn có của mình và có thể trở thành con người lí tưởng theo mẫu hình người quân tử.
Bởi vậy, có thể nói đường lối Nhân trị của Nho gia là Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 6 đường lối theo chủ nghĩa nhân văn. Tuy nhiên, dù có giá trị nhân văn sâu sắc thì tính không tưởng của nó vẫn là đặc trưng cơ bản trong quan điểm triết học của Nho gia về xã hội. Cách tiếp cận đó cho thấy: về cơ bản, cách tiếp cận của Nho gia trong nghiên cứu về xã hội thuộc quan điểm duy tâm chú quan. + Trong lịch sử triết học phương Tây, cách tiếp cận duy tâm về xã hội chi phối hầu hết các học thuyết triết học của các triết gia tử Hy Lạp cổ đại đến các học thuyết xã hội của các triết gia thời cận đại ở Tây Âu (Anh, Pháp, Đức).
Nhưng tiêu biểu nhất cho cách tiếp cận theo lập trường duy tâm là cách tiếp cận của Hegel – một đại biểu lớn nhất thuộc về chủ nghĩa duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức. + Theo triết học Hegel, giới tự nhiên và xã hội không phải là tồn tại thứ nhất mà trái lại, nó chỉ là tồn tại thứ hai – là sự "tha hoa" (là tồn tại khác, dưới hình thái vật chất tự nhiên) của tồn tại thứ nhất - đó là Ý niệm tuyệt đối tự vận động trong bản thân nó. Với quan niệm đó, lịch sử nhân loại không phải là lịch sử của sự tiến hoá, phát triển theo các quy luật khách quan của xã hội hoặc trên cơ sở nhu cầu phát triển sản xuất vật chất vốn có của xã hội, mà chỉ là giai đoạn tự vận động, phát triển cao nhất của Ý niệm tuyệt đối thành Tinh thần tuyệt đối, tức giai đoạn mà Ý niệm tuyệt đối sau quá trình tự vận động, tha hoá thành tồn tại giới tự nhiên đã trở về với chính nó, tìm được tính thống nhất trong bản thân nó. Trong Triết học tỉnh thần (bộ phận lí luận thứ ba trong hệ thống triết học của Hegel), ông đã trình bày tiễn trình phát triển của lịch sử nhân loại với tư cách là lịch sử tự phát triển của Tinh thần”, từng bước trải qua ba nấc thang của sự phát triển: từ “Tinh thần chủ quan” (tức là cái tinh thần trong quan hệ với chính bản thân nó, cũng tức là nói đến cái tinh thần gắn với mỗi con người với tư cách là mỗi cá thể người) đến "Tinh thần khách quan” (tức là cái tinh thần thể hiện dưới các binh thái thực tại xã hội; đó là gia đình, xã hội công dân và nhà nước) và cuối cùng đạt tới "Tinh thần tuyệt đối” (tức là đạt tới sự thẳng nhất hoàn toàn, tuyệt đối giữa tinh thần khách quan và tinh thần chủ quan cũng tức là mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan đã được khắc phục, đã được vượt qua và tìm lại sự thống nhất vẫn có của nó trong Ý niệm tuyệt đối).
Với cách tiếp cận theo lập trường duy tâm đó, lịch sử hiện thực của nhân loại trong tính biểu hiện phong phú, đa dạng của nó không phải là lịch sử của sự phát triển khách quan của những quan hệ vật chất của đời sống xã hội mà đó chỉ là “sự tha hoá của cái “Tinh thần” tự thân vận động theo phương thức tự phản đối và tự khắc phục mâu thuẫn vốn có của nó để đạt được sự thống nhất phi mâu thuẫn, tức trở về với bản tính đóng nhất vốn có của nó trong Ý niệm tuyệt đối mà theo Hegel, tính thống nhất tuyệt đối ấy, rốt cuộc được thể hiện đây dù trong hình thái nghệ Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 7 thuật, tôn giáo và triết học. Phương pháp tiếp cận về xã hội và lịch sử nhân loại của Hegel phủ hợp với phương pháp biện chứng duy tâm của ông. Giá trị lớn nhất trong cách tiếp cận này là phương pháp biện chứng trong phần tích về sự phát triển của lịch sử nhân loại. Hegel là triết gia đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã đưa quan điểm phát triển theo cách nhìn biện chứng vào việc mô tả lịch sử nhân loại, tuy nhiên theo cách lí giải trên lập trường duy tâm khách quan.
Phương pháp tiếp cận duy tâm của Hegel trong nghiên cứu về xã hội và lịch sử đã được các nhà triết học Đức ở thế kỉ XIX phê phán, trong đó tiêu biểu là sự phê phán của nhà triết học Feurbach và một số đại biểu khác của *Nhóm Hegel trẻ” (Bauer, Stirner). Tuy nhiên, khi phê phán cách tiếp cận duy tâm trong triết học Hegel, Ferbach cũng như các đại biểu của nhóm Hegel trẻ vẫn không thể vượt qua cách tiếp cận duy tâm về lịch sử. Sự phê phán của các nhà triết học đó chỉ là thay thế phạm trù "Ỵ niệm tuyệt đối hay “Tinh thần tuyệt đối” trong triết học Hegel bằng những phạm trù mới thuộc lĩnh vực ý thức của con người như "Tình yêu” (quan niệm của Teurbach) hay Tự ý thức” (quan niệm của Bauer) hoặc "Cái Tôi duy nhất (quan niệm của Stirner). Tuy nhiên, sự phê phán này chỉ là chuyển từ cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm khách quan của Hegel sang cách tiếp cận theo quan điểm duy tâm chủ quan về xã hội và lịch sử.
Phương pháp tiếp cận duy vật về xã hội + Những ý tưởng tiếp cận duy vật trong nghiên cứu về xã hội đã xuất hiện rõ trong một số học thuyết triết học của các nhà duy vật thời cận đại Tây Âu, điển hình là trong một số học thuyết của các triết gia nước Pháp (như Lametri, Diderot, Holbach.) và nước Anh (như Bacon, Hobbes. Những tư tưởng duy vật ấy đã được Feurbach kế thừa và phát triển trong nền triết học cổ điển Đức. Cách tiếp cận trong nghiên cứu về xã hội và lịch sử của các triết gia thời cận đại Tây Âu và của Teurbach còn có nhiều hạn chế trong đó hạn chế lớn nhất là họ đã sử dụng phương pháp siêu hình để nghiên cứu về xã hội và lịch sử. Trong những phạm vi nhất định, họ đã thấy được vai trò quyết định của nhân tố kinh tế đối với sự phát triển xã hội; vai trò của hoàn cảnh.
Toàn bộ những quan hệ ấy tạo thành cái cơ sở hiện thực làm nảy sinh hệ thống các quan hệ giữa con người với nhau thuộc thiết chế thượng tầng kiến trúc chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá.